Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2007
Thuốc Nam chữa bệnh mùa mưa lũ : nước ăn chân ,mẩn ngứa ,cảm cúm ..

Để chữa chứng nước ăn chân, trước hết rửa sạch chân bằng nước muối, nhất là các kẽ chân, lau khô, bôi dầu hỏa rồi rắc bột phèn phi. Ngày làm hai lần. Có thể dùng hỗn hợp bột phèn phi và mai hoa băng phiến.
Từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa mưa bão, dễ gây lũ lụt. Lúc này, thời tiết luôn ẩm ướt dễ gây bệnh, nhất là bệnh ngoài da. Bạn có thể tận dụng những cây cỏ quanh nhà để bào chế thuốc phòng và trị bệnh.
Chữa cảm cúm
Nồi nước xông: Lá tre, lá bưởi, lá sả, cúc tần, hương nhu mỗi thứ 20 g; tỏi 2-3 nhánh, đập giập. Tùy theo hoàn cảnh sẵn có của từng nơi, có thể thay thế bằng nhiều loại lá thơm khác như bạc hà, chanh, tràm, bạch đàn, đại bi, long não. Tất cả nấu với nước đến sôi, rồi xông từ từ cho hơi nước tỏa khắp thân thể cho ra mồ hôi trong 5-10 phút. Nằm nghỉ, đắp chăn tránh gió lạnh.
Cháo giải cảm: Lá tía tô 5 g; hành 5 g; gừng tươi 3 lát thái nhỏ, cho vào bát cùng ít gia vị và một chiếc lòng đỏ trứng gà. Đổ cháo sôi lên trên, khuấy đều rồi ăn nóng.
Chữa tiêu chảy
Lấy ngay vài búp ổi hoặc đọt chè, nụ sim, rửa sạch, nhai nuốt nước dần dần. Hoặc sắc 20 g vỏ quả măng cụt hoặc quả hồng xiêm xanh, củ nâu, bằng lăng tía để uống.
Có thể dùng bài thuốc gồm ngọn non cỏ lào 50 g; quả na điếc 20 g; đốt tồn tính; gạo tẻ 30 g, rang thật vàng, sắc lấy nước đặc uống.
Chữa nước ăn chân
Lá chè xanh và lá phèn đen mỗi thứ 20-30 g, nấu nước đặc, ngâm rửa chân trong 5-10 phút. Rồi lấy quả cà dại hoa trắng phối hợp với lá lốt, mỗi thứ 20 g, giã nát, thêm ít nước, dùng bông thấm thuốc bôi vào những kẽ nứt nẻ.
Hoặc lấy lá móng tay, lá bạch hạc, lá phèn đen, lá trâm bầu mỗi thứ 50-100 g, giã nát, ngâm vào 100 ml rượu trắng. Dùng bôi 2-3 lần trong ngày.
Chữa mẩn ngứa
Lá và ngọn non cây húng giổi 20-30 g, rửa sạch, giã nát, thêm nước sôi để nguội, cho vào vải mỏng, vắt lấy nước và cho thêm ít đường uống hoặc kết hợp hạt húng giổi 3-6 g, ngâm với nước đến khi chất nhầy bao quanh hạt phồng lên thành màng trắng. Trộn hai nước lại, uống làm một lần. Đồng thời, dùng bã lá xoa đều khắp cơ thể, nhất là vào những chỗ bị mẩn ngứa. Thường chỉ làm 1-2 lần đã thấy hết ngứa. Tiếp tục vài lần nữa là khỏi hẳn. Trường hợp không có hạt, dùng riêng lá cũng được.
Từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa mưa bão, dễ gây lũ lụt. Lúc này, thời tiết luôn ẩm ướt dễ gây bệnh, nhất là bệnh ngoài da. Bạn có thể tận dụng những cây cỏ quanh nhà để bào chế thuốc phòng và trị bệnh.
Chữa cảm cúm
Nồi nước xông: Lá tre, lá bưởi, lá sả, cúc tần, hương nhu mỗi thứ 20 g; tỏi 2-3 nhánh, đập giập. Tùy theo hoàn cảnh sẵn có của từng nơi, có thể thay thế bằng nhiều loại lá thơm khác như bạc hà, chanh, tràm, bạch đàn, đại bi, long não. Tất cả nấu với nước đến sôi, rồi xông từ từ cho hơi nước tỏa khắp thân thể cho ra mồ hôi trong 5-10 phút. Nằm nghỉ, đắp chăn tránh gió lạnh.
Cháo giải cảm: Lá tía tô 5 g; hành 5 g; gừng tươi 3 lát thái nhỏ, cho vào bát cùng ít gia vị và một chiếc lòng đỏ trứng gà. Đổ cháo sôi lên trên, khuấy đều rồi ăn nóng.
Chữa tiêu chảy
Lấy ngay vài búp ổi hoặc đọt chè, nụ sim, rửa sạch, nhai nuốt nước dần dần. Hoặc sắc 20 g vỏ quả măng cụt hoặc quả hồng xiêm xanh, củ nâu, bằng lăng tía để uống.
Có thể dùng bài thuốc gồm ngọn non cỏ lào 50 g; quả na điếc 20 g; đốt tồn tính; gạo tẻ 30 g, rang thật vàng, sắc lấy nước đặc uống.
Chữa nước ăn chân
Lá chè xanh và lá phèn đen mỗi thứ 20-30 g, nấu nước đặc, ngâm rửa chân trong 5-10 phút. Rồi lấy quả cà dại hoa trắng phối hợp với lá lốt, mỗi thứ 20 g, giã nát, thêm ít nước, dùng bông thấm thuốc bôi vào những kẽ nứt nẻ.
Hoặc lấy lá móng tay, lá bạch hạc, lá phèn đen, lá trâm bầu mỗi thứ 50-100 g, giã nát, ngâm vào 100 ml rượu trắng. Dùng bôi 2-3 lần trong ngày.
Chữa mẩn ngứa
Lá và ngọn non cây húng giổi 20-30 g, rửa sạch, giã nát, thêm nước sôi để nguội, cho vào vải mỏng, vắt lấy nước và cho thêm ít đường uống hoặc kết hợp hạt húng giổi 3-6 g, ngâm với nước đến khi chất nhầy bao quanh hạt phồng lên thành màng trắng. Trộn hai nước lại, uống làm một lần. Đồng thời, dùng bã lá xoa đều khắp cơ thể, nhất là vào những chỗ bị mẩn ngứa. Thường chỉ làm 1-2 lần đã thấy hết ngứa. Tiếp tục vài lần nữa là khỏi hẳn. Trường hợp không có hạt, dùng riêng lá cũng được.
Không nên ăn dưa chuột kèm cà chua

Trong dưa chuột có chứa một chất làm phân giải vitamin C, nó có thể phân hóa một cách triệt để lượng vitamin C...
Trong cà chua, hàm lượng vitamin C rất lớn. Nếu ta ăn hai thứ đó cùng một lúc thì lượng vitamm C trong cà chua sẽ bị phân giải một cách nghiêm trọng. Nếu lượng vitamin C càng lớn thì bị phân giải càng nhiều. Do vậy không nên ăn cà chua kèm dưa chuột.
Không nên ăn cà chua trước bữa cơm vì sẽ làm tăng chất chua cho dạ dày, dẫn đến nóng ruột, đau bụng.
Cà chua rất giàu vitamin A và C nên được phụ nữ dùng nhiều để nấu nướng, ăn sống, xay sinh tố, đắp mặt nạ... Tuy vậy, bạn không nên ăn cà chua trước bữa cơm vì sẽ làm tăng chất chua cho dạ dày, dẫn đến nóng ruột, đau bụng. Nên dùng sau khi ăn.
Cà chua hay được dùng chung với dưa chuột trong món salad. Sự kết hợp này cũng không có lợi về mặt dinh dưỡng, vì dưa chuột chứa chất dung môi, có thể phân giải và phá hủy vitamin C trong cà chua.
Cà chua cũng chứa một số thành phần phản ứng với axit dạ dày, gây đầy bụng, khó tiêu. Vì vậy, không nên ăn vào lúc đói.
Theo Tuổi Trẻ
Để chữa miệng khô, lưỡi rát, loét miệng, có thể lấy nước ép cà chua 150 ml và nước mía ép 20 ml, trộn đều để uống, ngày 2-3 lần. Còn nếu bị bí đại tiện, thiếu máu, hãy dùng 1-2 quả cà chua sống (gọt vỏ, thái nhỏ) trộn với mật ong ăn ngày 2-3 lần.
Y học hiện đại cho rằng, có thể dùng cà chua để chữa rối loạn chuyển hóa muối, viêm gan, xơ gan, béo phì, làm chậm quá trình lão hóa và phòng chống ung thư. Còn theo Đông y, cà chua tính bình, vị chua, hơi ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, tăng tân dịch, chống khát nước, giúp thông tiểu tiện và tiêu hóa tốt. Dưới đây là một số ứng dụng cụ thể:
- Bổ sung dinh dưỡng: Một người bình thường mỗi ngày có thể ăn 200 g cà chua (ăn sống hoặc nghiền thành bột nhão). Lượng cà chua này có thể đáp ứng đủ nhu cầu về vitamin A, C, sắt và ka li của cơ thể trong 24 giờ.
- Phòng và chữa sốt cao, khát nước do nắng nóng: Cà chua 200 g thái lát, sắc nước, uống thay trà trong ngày, uống nóng hay lạnh đều được. Cũng có thể dùng nước ép cà chua và nước ép dưa hấu mỗi thứ 200 ml trộn đều, chia 2-3 lần uống trong ngày.
- Chữa tăng huyết áp: Sáng sớm, khi chưa ăn uống gì, lấy 1-2 quả cà chua, dùng nước sôi rửa sạch, thái thành miếng nhỏ, trộn thêm chút đường cho đủ ngọt, ăn sống. Mỗi liệu trình 10-15 ngày, nghỉ 3 ngày, sau đó lại tiếp tục liệu trình khác. Cách ăn này đặc biệt có ích với những người bị tăng huyết áp kèm theo xuất huyết dưới đáy mắt.
- Chữa phồng tĩnh mạch do bị nghẽn: Dùng cà chua sống (thái mỏng hoặc nghiền thành bột nhão) đắp lên chỗ mạch máu bị phồng. Mỗi ngày làm một lần, khi bắt đầu thấy rát thì bỏ thuốc ra. Thuốc có tác dụng thông huyết và chống đau nhức.
- Chữa dạ dày nóng cồn cào, miệng đắng: Nước ép quả cà chua 150 ml, nước ép quả sơn tra (táo mèo) 15 ml, hai thứ trộn đều uống, ngày 2-3 lần.
- Chữa viêm gan mạn tính: Cà chua 250 g rửa sạch, thái miếng; thịt bò 100 g thái thành lát mỏng, thêm mỡ, mắm, muối...; làm món xào ăn với cơm hằng ngày. Món này có tác dụng bình can, ích huyết (điều hòa chức năng gan, bổ máu), kiện tỳ, tiêu thực (tăng cường chức năng tiêu hóa), có tác dụng hỗ trợ tốt trong quá trình điều trị viêm gan mạn tính bằng thuốc, giúp cơ thể chóng phục hồi sau khi khỏi bệnh.
Chú ý:
- Lượng axit hữu cơ trong cà chua sống tương đối lớn, có thể gây co thắt túi mật. Vì vậy, người bị bệnh sỏi mật không nên áp dụng các bài thuốc trên.
- Trong cà chua có một lượng nhỏ purin nên những người bị thống phong (bệnh gút) cần thận trọng, cần được thầy thuốc chuyên khoa tư vấn khi muốn sử dụng.
Thuốc nam trị nước ăn chân - cho đông bào bị lũ lụt ở quê nhà

"Nước ăn chân" là từ dân gian thường gọi để chỉ tình trạng lở loét, chảy nước ở kẽ các ngón chân. Đây là bệnh thường gặp của những người dân sống ở nông thôn hoặc ở vùng lũ lụt vì hay lội nước.
Còn ở thành thị, những người mắc bệnh này có ít hơn, chủ yếu do mang giày quá chật, do rối loạn thần kinh thực vật gây tiết nhiều mồ hôi ở bàn chân.
Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây qua việc tắm hồ bơi hoặc dùng chung giày, vớ. Công nhân ở hầm mỏ hoặc làm việc trong phòng cấp đông của xí nghiệp đông lạnh cũng có thể bị bệnh này.
Bệnh thường tự thoái lui nếu bàn chân khô ráo nhưng cũng có thể tái phát thành viêm mãn tính, và trở nặng nếu bàn chân chịu ẩm ướt thường xuyên. Dưới đây là những bài thuốc đơn giản trị bệnh này.
- Lá trầu không tươi + lá muồng trâu tươi giã nát đắp tại chỗ. Có thể dùng cả hai vị này sắc với ít nước cho sôi lửa nhỏ rồi ngâm chân cho ngập chỗ tổn thương khi nước còn nóng (chú ý tránh phỏng). Mỗi ngày có thể làm 2-3 lần, nhất là sau khi lội nước dơ.
- Dùng một cục phèn chua nhỏ ngâm với một ít nước cho tan ra rồi ngâm chân, sau đó lau khô. Phèn chua có tác dụng làm khô (táo thấp), chống ngứa (giải độc) và sát trùng.
- Lá kim ngân (hoặc lá kinh giới) sắc đặc với nước rồi ngâm rửa chân. Nếu có tổn thương bội nhiễm (viêm nhiễm, lở loét chảy nước nhiều) thì thêm khoảng 5-10 gam tô mộc (thái phiến càng mỏng càng tốt) sắc chung. Mỗi ngày làm từ 2-3 lần.
- Biện pháp phòng ngừa là trước khi mang giày nên lấy phèn phi tán bột mịn hoặc bột talc rắc vào kẽ chân.
Ngoài ra, xin giới thiệu một bài thuốc: kim ngân 12g, ké đầu ngựa 16g, kinh giới 12g, ý dĩ 16g, nhân trần 12g, thổ phục linh 20g, hoàng bá 12g, hi thiêm thảo 16g, cỏ mực 16g, liên kiều 12g, cam thảo 8g.
Những vị thuốc trong bài hầu hết dễ tìm thấy ở nông thôn. Cách đơn giản để dùng là sắc uống. Trên thực tế lâm sàng, thầy thuốc thường căn cứ vào thể tạng từng bệnh nhân để gia giảm những vị thuốc hoặc liều lượng thích hợp.
BS PHAN MINH TRÍ (Viện Y dược học dân tộc TP )
Còn ở thành thị, những người mắc bệnh này có ít hơn, chủ yếu do mang giày quá chật, do rối loạn thần kinh thực vật gây tiết nhiều mồ hôi ở bàn chân.
Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây qua việc tắm hồ bơi hoặc dùng chung giày, vớ. Công nhân ở hầm mỏ hoặc làm việc trong phòng cấp đông của xí nghiệp đông lạnh cũng có thể bị bệnh này.
Bệnh thường tự thoái lui nếu bàn chân khô ráo nhưng cũng có thể tái phát thành viêm mãn tính, và trở nặng nếu bàn chân chịu ẩm ướt thường xuyên. Dưới đây là những bài thuốc đơn giản trị bệnh này.
- Lá trầu không tươi + lá muồng trâu tươi giã nát đắp tại chỗ. Có thể dùng cả hai vị này sắc với ít nước cho sôi lửa nhỏ rồi ngâm chân cho ngập chỗ tổn thương khi nước còn nóng (chú ý tránh phỏng). Mỗi ngày có thể làm 2-3 lần, nhất là sau khi lội nước dơ.
- Dùng một cục phèn chua nhỏ ngâm với một ít nước cho tan ra rồi ngâm chân, sau đó lau khô. Phèn chua có tác dụng làm khô (táo thấp), chống ngứa (giải độc) và sát trùng.
- Lá kim ngân (hoặc lá kinh giới) sắc đặc với nước rồi ngâm rửa chân. Nếu có tổn thương bội nhiễm (viêm nhiễm, lở loét chảy nước nhiều) thì thêm khoảng 5-10 gam tô mộc (thái phiến càng mỏng càng tốt) sắc chung. Mỗi ngày làm từ 2-3 lần.
- Biện pháp phòng ngừa là trước khi mang giày nên lấy phèn phi tán bột mịn hoặc bột talc rắc vào kẽ chân.
Ngoài ra, xin giới thiệu một bài thuốc: kim ngân 12g, ké đầu ngựa 16g, kinh giới 12g, ý dĩ 16g, nhân trần 12g, thổ phục linh 20g, hoàng bá 12g, hi thiêm thảo 16g, cỏ mực 16g, liên kiều 12g, cam thảo 8g.
Những vị thuốc trong bài hầu hết dễ tìm thấy ở nông thôn. Cách đơn giản để dùng là sắc uống. Trên thực tế lâm sàng, thầy thuốc thường căn cứ vào thể tạng từng bệnh nhân để gia giảm những vị thuốc hoặc liều lượng thích hợp.
BS PHAN MINH TRÍ (Viện Y dược học dân tộc TP )
Uống nước ngọt có nguy cơ bị bệnh Tim nhiều hơn

Tin New York. Ngày 24 tháng 7-2007. Theo tạp chí Circulationtri1ch bản tin từ Hiệp Hội the American Heart Association.Thì những ai uống hơn 1 lon nước ngọt trong ngày thì dễ bị vướng phải chứng bệnh đau tim nhiều hơn so với những ai không uống nước ngọt. Nghiên cứu cho biết rằng áp huyết sẽ tăng, dễ bị tiểu đường, hay các chứng liên quan đến mạch máu. Bác sĩ Giảng Sư Dr Ramachandran Vasan của trường Boston University School of Medicine in Massachusetts nói " Không cần biết uống nước ngọt loại ngay cả loại Diet đều bị ảnh hưởng ."
Cuộc nghiên cứu này được sự hợp tác của 9000 người trong thời gian là 9 năm gồm những lứa tuổi khoảng trung niên gồm nam lẫn nữ. Kết quả cho thấy tỷ lệ vướng bệnh là 48% so với những người hoàn toàn không uống nước ngọt. Về mặt Y Học nghiên cứu này có tên là Framingham Heart Study (FHS) được giới Y Khoa quan tâm nghiên cứu từ năm 1948 nay đã trải qua thế hệ nghiên cứu của giới Y học để đi đến thông báo kể trên.
Theo Circulation
Cuộc nghiên cứu này được sự hợp tác của 9000 người trong thời gian là 9 năm gồm những lứa tuổi khoảng trung niên gồm nam lẫn nữ. Kết quả cho thấy tỷ lệ vướng bệnh là 48% so với những người hoàn toàn không uống nước ngọt. Về mặt Y Học nghiên cứu này có tên là Framingham Heart Study (FHS) được giới Y Khoa quan tâm nghiên cứu từ năm 1948 nay đã trải qua thế hệ nghiên cứu của giới Y học để đi đến thông báo kể trên.
Theo Circulation
Không nên lạm dụng thực phẩm ăn liền

Các loại mì gói chỉ đem lại năng lượng từ tinh bột trong mì, hầu như không có giá trị dinh dưỡng. Phở, bún, miến ăn liền... không an toàn do lượng đường, bột ngọt trong bột nêm và chất dầu bị ôxy hóa.
Tiến sĩ dinh dưỡng Nguyễn Thị Minh Kiều phân tích: Thành phần chính của mì gói là mì ép thành bánh và bột nêm. Trên thế giới, mì thường được xử lý qua công nghệ sấy và chiên. Ở VN hiện nay, mì chỉ được xử lý qua công nghệ chiên. Dầu sử dụng để chiên là loại shortening không có lợi cho sức khỏe.
Mì chiên có độ ôxy hóa cao (ôxy hóa là tác nhân gây ra các bệnh tiểu đường, tim mạch, ung thư...).
Trong khi đó thành phần chính của gói bột nêm là muối và bột ngọt, lượng thịt, tôm (nếu có) rất hạn chế. Dầu trong gói bột nêm cũng được xử lý chiên, bị ôxy hóa.
Ngoài ra, trong các loại thực phẩm đóng gói, đóng hộp chứa rất nhiều muối. Ở mì gói, muối có trong bánh mì và trong gói bột nêm chiếm từ 800 g đến trên 1.000 g/gói (trong khi lượng muối cần thiết cho cơ thể mỗi ngày là 2.400 g).
Các loại mì gói chỉ đem lại năng lượng từ tinh bột trong mì, hầu như không có giá trị dinh dưỡng. Phở, bún, miến không an toàn do lượng đường, bột ngọt trong bột nêm và chất dầu bị ôxy hóa.
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, đây là loại thực phẩm thiếu dinh dưỡng, người tiêu dùng nên hạn chế sử dụng. Hoặc khi sử dụng mì ăn liền, tốt nhất nên trụng nước sôi để giảm bớt độ muối (các loại bún, phở, miến... ăn liền không cần trụng nước sôi) và không nên sử dụng bột nêm.
Theo Người Lao Động
Tiến sĩ dinh dưỡng Nguyễn Thị Minh Kiều phân tích: Thành phần chính của mì gói là mì ép thành bánh và bột nêm. Trên thế giới, mì thường được xử lý qua công nghệ sấy và chiên. Ở VN hiện nay, mì chỉ được xử lý qua công nghệ chiên. Dầu sử dụng để chiên là loại shortening không có lợi cho sức khỏe.
Mì chiên có độ ôxy hóa cao (ôxy hóa là tác nhân gây ra các bệnh tiểu đường, tim mạch, ung thư...).
Trong khi đó thành phần chính của gói bột nêm là muối và bột ngọt, lượng thịt, tôm (nếu có) rất hạn chế. Dầu trong gói bột nêm cũng được xử lý chiên, bị ôxy hóa.
Ngoài ra, trong các loại thực phẩm đóng gói, đóng hộp chứa rất nhiều muối. Ở mì gói, muối có trong bánh mì và trong gói bột nêm chiếm từ 800 g đến trên 1.000 g/gói (trong khi lượng muối cần thiết cho cơ thể mỗi ngày là 2.400 g).
Các loại mì gói chỉ đem lại năng lượng từ tinh bột trong mì, hầu như không có giá trị dinh dưỡng. Phở, bún, miến không an toàn do lượng đường, bột ngọt trong bột nêm và chất dầu bị ôxy hóa.
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, đây là loại thực phẩm thiếu dinh dưỡng, người tiêu dùng nên hạn chế sử dụng. Hoặc khi sử dụng mì ăn liền, tốt nhất nên trụng nước sôi để giảm bớt độ muối (các loại bún, phở, miến... ăn liền không cần trụng nước sôi) và không nên sử dụng bột nêm.
Theo Người Lao Động
80% ung thư gan là do viêm gan B
Viêm gan B là bệnh về gan thường gặp, nằm trong danh mục 10 bệnh dịch gây tử vong cao nhất trên thế giới.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện có khoảng 400 triệu người trên toàn cầu nhiễm siêu vi viêm gan B, tại VN các số liệu điều tra về dịch tễ học cũng cho biết có khoảng 15% dân số, tương đương 12 triệu người đang bị nhiễm siêu vi viêm gan B, cao gấp 40 đến 50 lần số người nhiễm HIV.
Nguồn gốc lây nhiễm siêu vi viêm gan B ở VN là khoảng 25% từ mẹ sang con lúc chưa sinh, 50% lây nhiễm ở tuổi thiếu nhi và 25% còn lại do các nguyên nhân khác. Cũng theo WHO, hơn nửa triệu người chết mỗi năm do ung thư gan nguyên phát thì có đến 80% là do viêm gan B.
Giáo sư Bác sĩ Phạm Hoàng Phiệt, Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM và là Chủ tịch Hội đồng xúc tiến điều trị Viêm gan B cho hay, bệnh này dễ lây lan và vi rút có thể tồn tại bên ngoài cơ thể con người đến 7 ngày. Viêm gan nghĩa là lá gan bị đốt cháy do nhiễm một trong những loại siêu vi viêm gan, từ viêm gan A đến viêm gan G. Nhiễm viêm gan B mạn tính xảy ra khi virút này vào người qua các chất dịch của cơ thể: qua đường tình dục, máu, chất dịch trong lây truyền mẹ sang con, con sang con và hệ miễn dịch không thể giết (hoặc diệt sạch) virút viêm gan B…
Viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến suy gan, xơ gan, ung thư gan và tử vong. Suy gan và ung thư gan do viêm gan B mạn tính làm chết nhiều người tại Châu Á, từ 350. 000- 400.000 người/năm.
Điều đáng chú ý là vào thời điểm nhiễm và khi mắc viêm gan B bệnh nhân không bộc lộ bất cứ triệu chứng nào, hoặc nếu có, thì triệu chứng rất nhẹ và giống cúm. Ngay cả khi bệnh trở nên nghiêm trọng, bao gồm giai đoạn đầu của ung thư gan người bệnh vẫn không có dấu hiệu rõ ràng của bệnh. Đa số bệnh nhân không biết mình mang virút có thể lây nhiễm cho người khác, do đó, theo Giáo sư Phiệt để biết bệnh chỉ có cách thực hiện xét nghiệm tầm soát bệnh.
“VN có tỷ lệ nhiễm siêu vi viêm gan B cao, nếu có điều kiện chúng ta nên làm xét nghiệm tầm soát cho mọi người. Nếu điều kiện hạn chế chúng ta nên ưu tiên tầm soát ở các đối tượng có nguy cơ nhiễm cao như người được truyền máu hay sản phẩm của máu (nhất là truyền trước năm 1990 khi chưa áp dụng sàng lọc máu phổ biến để loại trừ lây nhiễm siêu vi viêm gan B), người sử dụng ma túy qua đường tĩnh mạch, có người thân trong gia đình viêm gan B hoặc xơ gan, ung thư gan…” - Giáo sư Phiệt cho biết thêm.
Mục tiêu điều trị đối với viêm gan B mạn tính là làm giảm mức tải virút trong máu bệnh nhân. Theo hướng dẫn mới của Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Mỹ (AASLD) được công bố tại hội nghị APASL 2007 ở Châu Á, mục tiêu cơ bản của điều trị là đạt được sự ức chế duy trì đối với sự sao chép của virút viêm gan B và đẩy lùi bệnh gan. Mục tiêu tối hậu là ngăn chặn xơ gan, suy gan và ung thư gan.
Với người đã nhiễm B thì có 2 khả năng: nếu tự lành thì họ sẽ có miễn dịch bảo vệ hoặc nếu nhiễm mạn tính thì tiêm phòng không còn tác dụng nữa. Đối với một số người nhiễm mạn tính (khoảng 25%) cần điều trị thì có thuốc đặc hiệu là uống và tiêm. Thuốc uống hiện có 4 loại đã được Cơ quan dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho sử dụng trong điều trị là Lamivudine, Adefovir, Entecavir và Telbivudine.
(Theo VietNamNet)
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện có khoảng 400 triệu người trên toàn cầu nhiễm siêu vi viêm gan B, tại VN các số liệu điều tra về dịch tễ học cũng cho biết có khoảng 15% dân số, tương đương 12 triệu người đang bị nhiễm siêu vi viêm gan B, cao gấp 40 đến 50 lần số người nhiễm HIV.
Nguồn gốc lây nhiễm siêu vi viêm gan B ở VN là khoảng 25% từ mẹ sang con lúc chưa sinh, 50% lây nhiễm ở tuổi thiếu nhi và 25% còn lại do các nguyên nhân khác. Cũng theo WHO, hơn nửa triệu người chết mỗi năm do ung thư gan nguyên phát thì có đến 80% là do viêm gan B.
Giáo sư Bác sĩ Phạm Hoàng Phiệt, Chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM và là Chủ tịch Hội đồng xúc tiến điều trị Viêm gan B cho hay, bệnh này dễ lây lan và vi rút có thể tồn tại bên ngoài cơ thể con người đến 7 ngày. Viêm gan nghĩa là lá gan bị đốt cháy do nhiễm một trong những loại siêu vi viêm gan, từ viêm gan A đến viêm gan G. Nhiễm viêm gan B mạn tính xảy ra khi virút này vào người qua các chất dịch của cơ thể: qua đường tình dục, máu, chất dịch trong lây truyền mẹ sang con, con sang con và hệ miễn dịch không thể giết (hoặc diệt sạch) virút viêm gan B…
Viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến suy gan, xơ gan, ung thư gan và tử vong. Suy gan và ung thư gan do viêm gan B mạn tính làm chết nhiều người tại Châu Á, từ 350. 000- 400.000 người/năm.
Điều đáng chú ý là vào thời điểm nhiễm và khi mắc viêm gan B bệnh nhân không bộc lộ bất cứ triệu chứng nào, hoặc nếu có, thì triệu chứng rất nhẹ và giống cúm. Ngay cả khi bệnh trở nên nghiêm trọng, bao gồm giai đoạn đầu của ung thư gan người bệnh vẫn không có dấu hiệu rõ ràng của bệnh. Đa số bệnh nhân không biết mình mang virút có thể lây nhiễm cho người khác, do đó, theo Giáo sư Phiệt để biết bệnh chỉ có cách thực hiện xét nghiệm tầm soát bệnh.
“VN có tỷ lệ nhiễm siêu vi viêm gan B cao, nếu có điều kiện chúng ta nên làm xét nghiệm tầm soát cho mọi người. Nếu điều kiện hạn chế chúng ta nên ưu tiên tầm soát ở các đối tượng có nguy cơ nhiễm cao như người được truyền máu hay sản phẩm của máu (nhất là truyền trước năm 1990 khi chưa áp dụng sàng lọc máu phổ biến để loại trừ lây nhiễm siêu vi viêm gan B), người sử dụng ma túy qua đường tĩnh mạch, có người thân trong gia đình viêm gan B hoặc xơ gan, ung thư gan…” - Giáo sư Phiệt cho biết thêm.
Mục tiêu điều trị đối với viêm gan B mạn tính là làm giảm mức tải virút trong máu bệnh nhân. Theo hướng dẫn mới của Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Mỹ (AASLD) được công bố tại hội nghị APASL 2007 ở Châu Á, mục tiêu cơ bản của điều trị là đạt được sự ức chế duy trì đối với sự sao chép của virút viêm gan B và đẩy lùi bệnh gan. Mục tiêu tối hậu là ngăn chặn xơ gan, suy gan và ung thư gan.
Với người đã nhiễm B thì có 2 khả năng: nếu tự lành thì họ sẽ có miễn dịch bảo vệ hoặc nếu nhiễm mạn tính thì tiêm phòng không còn tác dụng nữa. Đối với một số người nhiễm mạn tính (khoảng 25%) cần điều trị thì có thuốc đặc hiệu là uống và tiêm. Thuốc uống hiện có 4 loại đã được Cơ quan dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho sử dụng trong điều trị là Lamivudine, Adefovir, Entecavir và Telbivudine.
(Theo VietNamNet)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
