Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2008

Massage vành tai - một phương pháp bảo vệ sức khỏe


Đông y cho rằng, 12 kinh mạch đều tập trung ở tai. Nhiều nhà khoa học cũng khẳng định, trên vành tai có hơn 100 huyệt liên quan đến bệnh tật. Tất cả các cơ quan trong cơ thể đều có vùng phản xạ ở bộ phận này. Vì vậy, việc xoa sát vành tai được coi là một biện pháp tốt để bảo vệ sức khỏe.

Nhờ massage vành tai, bạn có thể kích thích các huyệt vị trên tai, thông qua đó kích thích toàn bộ các cơ quan trong cơ thể, điều hòa thần kinh thực vật... Sau đây là cách thực hiện:

- Trước hết, hãy xát hai bàn tay vào nhau cho đến khi ấm nóng. Dùng đầu ngón tay trỏ khẽ xoa xung quanh mặt trước của tai khoảng 10-20 lần, chú ý nhất vào vùng hõm (ngay trước lỗ tai, nơi có vùng đại diện của tim mạch) và phía trên mặt trước vành tai (nơi có huyệt "thần môn", sẽ có tác dụng an thần, điều hòa thần kinh thực vật, giảm đau, chống viêm).

- Tiếp đó, dùng ngón tay cái xoa mặt sau tai (ở vùng này có "rãnh hạ áp", việc tác động vào rãnh này giúp hạ huyết áp). Cùng lúc đó, có thể dùng lòng bàn tay ấp hẳn vào tai, xoa day nhẹ nhàng cho đến khi tai có cảm giác nóng ấm.

Việc massage vành tai cần được thực hiện đều đặn. Mỗi ngày, bạn có thể dành 3-5 phút cho công việc này. Phương pháp này không đem lại hiệu quả tức thời. Hãy kiên trì tập, bạn sẽ thấy sức khỏe được cải thiện.

BS Quách Tuấn Vinh, Sức Khỏe & Đời Sống

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2008

Báo Động Nguy Cơ Nhiễm Chì Ở Nước, Thức Ăn, Đồ Gia Dụng


Chì độc như thế nào?

Chì là độc chất kim loại nặng có trong môi trường bị ô nhiễm, trong các nguyên liệu làm đồ chơi cho trẻ và cả những vật dụng hàng ngày. Đây là một kiểu gây hại sức khoẻ ghê gớm cho trẻ nhưng lại khó nhìn, khó phát hiện, chỉ trừ khi ngộ độc cấp tính, mà lúc đó thì đã quá trễ.

Ô nhiễm chì được ghi nhận nhiều nhất là chì có trong xăng ô tô, ở dạng ankyl - chì, với vai trò là chất chống kích nổ. Khi có sự hiện diện của chì trong các loại men tế bào khác nhau thì các loại men này không thể thực hiện được những chức năng của chúng trong cơ thể. Khi bị nhiễm chì, cơ thể rơi vào trạng thái hưng phấn và mất ngủ, sau đó là mệt mỏi, trầm uất và táo bón. ( http://thuvien.ntu.edu.vn )

TP.HCM: Không khí bị ô nhiễm chì

Tại TP.HCM, lượng chì trong không khí đã tăng gấp đôi, từ 0,5μg/m3 lên đến trên 1μg/m3. Việc chì tăng bất thường như nói trên, nghi vấn là do đã có một lượng xăng pha chì bán ra thị trường trong thời gian gần đây.


Ai cũng biết đến sự nguy hiểm của chất chì độc hại trong đồ chơi nhưng ít người biết rằng vẫn có nhiều cách để người ta bị nhiễm chất kim loại này.

Trẻ em là nhóm có nguy cơ bị nhiễm nhiều nhất vì cơ thể chúng phát triển nhanh chóng. Chất độc này có thể làm tác hại đến não bộ và hệ thần kinh, làm chậm lại quá trình phát triển tự nhiên cũng như những vấn đề khác. Những trẻ có thói quen hôn hít, ngậm đồ chơi có sơn sẽ có nguy cơ nhiễm chì cao hơn các trẻ khác 3-4 lần do chì có trong thành phần sơn khá cao

Chì và hiện tượng độc chì đối với trẻ em

Những trẻ có thói quen hôn hít, ngậm đồ chơi có sơn sẽ có nguy cơ nhiễm chì cao hơn các trẻ khác 3-4 lần do chì có trong thành phần sơn khá cao Ta biết rằng, lượng bụi chì trung bình trong không khí đô thị khoảng 1 mg/m3, mà con người muốn hay không cũng phải hít vào 1,5-20 mg/ngày. Ở nông thôn, nồng độ này có thấp hơn, ở khoảng 0,1-0,2 mg/m3 và con người tại đó phải hít một lượng bụi chì 1,5-4,0 mg/ngày. Theo quy định Tổ chức sức khoẻ thế giới (WHO), giới hạn bụi chì nơi làm việc phải nhỏ hơn 0,01 mg/m3 không khí, còn ở khu dân cư thì phải nhỏ hơn 0,005 mg/m3. Ấy vậy mà bụi chì trong không khí khu sản xuất công nghiệp cao hơn nhiều lần cho phép. Dọc các trục lộ giao thông với mức trung bình thì chưa cao, nhưng vào các thời điểm kẹt xe hay giờ cao điểm thì lại bộc phát khá cao. Bụi chì sinh ra từ khói xe ô tô, xe máy do dùng xăng pha chì, mặc dù giờ đây, không dùng xăng pha chì nữa, nhưng lương bụi chì không vì thế mà giảm đáng kể. Khi trẻ em hít phải, ở nồng độ thấp 1mg/m3, chỉ trong thời gian 1 ngày (sau đó thôi không tiếp xúc nữa) thì chưa bị ngộ độc ngay, mà chỉ biểu hiện rõ sau vài tuần. Nếu vào cơ thể với nồng độ 0,1 mg/m3 trong nhiều ngày liên tục thì sẽ nhiễm độc mãn tính. Ta biết rằng, trẻ em rất mẫn cảm với chì vì hệ thần kinh non yếu, khả năng thải độc kém. Tuy nhiên, khi chì xâm nhiễm qua con đường thực phẩm lại khó phát hiện ra, vì ở trẻ, tỷ lệ thức ăn tính trên trọng lượng cơ thể khá lớn (cao hơn người lớn nhiều lần), nên khó phát hiện. Ví dụ, người ta đã tính toán thấy rằng, lượng chì nhiễm theo con đường thức ăn bình quân cho trẻ em là 50-150 mg/ngày (so với người lớn, 100-200 mg/ngày). Và, khả năng nhiễm chì qua thức ăn của trẻ gấp 4 lần so với người lớn. Mà lượng nhiễm độc, nếu nuốt phải 100 mg muối chì sulphate/kg cơ thể trong nhiều ngày, cơ thể có thể nhiễm độc mãn tính. Trẻ em hay bú tay, hay chùi tay vào miệng có nguy cơ nhiễm chì cao gấp 4-5 lần so với trẻ bình thường. Môi trường xung quanh thì đầy rẫy vật liệu và không khí cũng thường bị nhiễm chì. Ngay cả những dụng cụ, đồ chơi cho trẻ có sơn màu rất bắt mắt nhưng trong đó lại chứa lượng chì lớn. Các trẻ có thói quen hôn hít, ngậm đồ chơi có sơn sẽ có nguy cơ nhiễm chì cao hơn các trẻ khác 3-4 lần do chì có trong thành phần sơn khá cao. Chẳng hạn sơn dùng sơn lót, có thể chứa 30.000- 60.000mg/kg dung dịch sơn. Những chỗ trên mặt vật liệu, dụng cụ, bàn ghế, tủ giường sơn bị rộp có nguy cơ cao gây nhiễm chì cho trẻ, ngay cả mặt ngoài còn nguyên vẹn, đồ chơi có sơn cũng bị nhiễm chì. Hiện nay tiêu chuẩn cho phép đối với sơn dùng sản xuất đồ chơi ở Mỹ quy định phải có hàm lượng chì nhỏ hơn 2.500mg/kg sơn, còn tiêu chuẩn cho sơn nhà ở Mỹ phải nhỏ hơn 5.000 mg/kg sơn. Tai hại hơn, ở các vùng nông thôn, trẻ em tìm chì từ nhiều nguồn, tự đúc lại thành những viên chì dẹt để làm viên chọi trong đánh đáo. Hoặc các em cũng tự nung chảy chì trên bếp, rồi cho nguội, đúc thành những viên bi để đánh bi trên đất; hay là các em phụ ba mẹ đúc viên chì làm vật kéo dây câu cá, lưới cá; hoặc là các trẻ em phải phụ việc ở cơ sở sản xuất acquy, chữa ô tô, các em sống gần các lò gang, đúc chì, đồng, thủ công mỹ nghệ… Những công việc này luôn làm cho trẻ tiếp xúc và nhiễm chì qua tay, miệng, nhất là khi đúc chì, hơi độc chì xâm nhiễm vào cơ thể trẻ rất nhanh, có thể gây ngộ độc cấp cho trẻ. Do đó các bậc phụ huynh không nên cho trẻ tiếp xúc và chơi với các acquy hay những pin đã hỏng. Đã có nhiều bậc phụ huynh không lường trước những nguy hại của nó làm trẻ ngộ độc, mà ngộ độc mãn tính, ngấm từ từ, rồi tích lũy và phóng đại sinh học đến một giới hạn nhất định sẽ gây ung thư, thiếu máu cho trẻ vì chì có đặc tính là nằm lại trong cơ thể rất lâu, có khả năng tác động mạnh lên tế bào não non trẻ. Nghiên cứu cũng cho ta biết rằng, chì trong lớp đất mặt có nơi 0.5-5,0 mg/kg đất. Trẻ em lê la trên đất dễ nhiễm chì theo con đường mãn tính. Các nghiên cứu ghi nhận rằng, khả năng ô nhiễm chì cho trẻ qua con đường thức ăn gấp 4-5 lần người lớn. Mặt khác, người ta theo dõi và thấy rằng, bình quân trong mỗi điếu thuốc lá chứa 4,0-12,0 mg chì, và bình quân có 20% lượng chì đó được người hút thuốc hấp thụ qua khói thuốc. Như vậy, nếu một người hút 20 điếu thuốc/ngày thì sẽ hấp thu vào cơ thể mình là 1-5 mg/ngày. Các nghiên cứu tin cậy cũng chỉ ra rằng, những trẻ em có bố mẹ nghiện thuốc thì nguy cơ nhiễm độc chì cao gấp 4-6 lần so với trẻ có bố mẹ không nghiện thuốc do nhiễm độc khói thuốc thụ động

Có thể đột tử vì ngộ độc chì

Chì là kim loại nặng (tỷ trọng lớn hơn 5Kg/dm3) có độc tính cao với não, có thể gây đột tử nếu ngộ độc nặng, nhất là đối trẻ em. Những trẻ em tiếp xúc với chì bị nhiễm độc thì da xanh tái, bởi chì đã ức chế sự tổng hợp Hemoglobin, dẫn đến các em ấy thiếu máu. Chì có thể thay thế Canxi trong tế bào mới của các trẻ, và tác động lên chu trình biến dưỡng, dẫn đến việc giảm khả năng tổng hợp ATP (Adenozin Three Phosphate), làm hỏng chức năng của tế bào. Việc xác định lượng chì hấp thụ vào cơ thể của trẻ từ nguồn đất và bụi gặp rất nhiều khó khăn. Theo các thí nghiệm của các tác giả nước ngoài, nếu trẻ đó hấp thụ một lượng bụi hàng ngày khoảng 25-100mg, mà trong bụi đó lại chứa khoảng 200 đến 2.000mg/kg thì trẻ đó có thể hấp thu một lượng chì là 5-200 mg/ngày. Tuy nhiên, không phải là tất cả lượng chì thâm nhập vào cơ thể đều vào máu, mà chỉ một lượng ít trong đó mà thôi, còn thì tích lũy lại trong gan, thận và trong mỡ, số còn lại thải qua đường phân, nước tiểu, mồ hôi. Triệu chứng nhiễm độc chì Triệu chứng nhiễm độc chì ở trẻ nhiều lúc khó phát hiện ra, nhất là trong trường hợp lượng chì nhiễm dưới mức nguy hiểm nhưng nó lại gây bệnh mãn tính cho trẻ. Trong trường hợp này trẻ biểu hiện thần kinh mệt mỏi, suy nhược, tính tình trở nên dễ cáu gắt, nhức nhối khắp mình. Những trẻ nhiễm độc chì đều bị bệnh thiếu máu. Mặt khác, chì ảnh hưởng lên bộ máy tiêu hóa, nên trẻ ăn uống giảm sút, chán ăn, hay buồn nôn, đau bụng có những lúc dữ dội, sắc mặt tái xám. Nhiều độc chất chì dễ dẫn đến suy gan và thận. Nhiễm độc chì là một loại bệnh môi trường, khó phát hiện nhưng thường gặp nhất là ở lứa tuổi thiếu niên nhi đồng. Các bậc phụ huynh cần lưu ý nhất là trong đô thị nhiều chất thải, khói bụi, sơn nhà, đất cát, và nhất là đồ chơi của trẻ.

Đối với người lớn, nhiều số lượng chì trong cơ thể có tể dẫn đến những vấn đề trục trặc sinh sản, cao máu, mất trí nhớ và thiếu tập trung.

Nồng độ chì trong không khí cũng đã giảm thiểu kể từ cuối thập niên 70 sau khi có lệnh tách chất này ra khỏi xăng. Ngày nay, theo cơ quan môi trường EPA cho biết thì đa số chất này được tìm thấy tại các nhà máy công nghiệp và thường là vấn đề tại các khu vực đô thị hoặc công nghệ hoá.

Trong khi đó những nguồn khác phải kể đến đó là các hộp sơn lưu trữ quá hạn có thể biến thành bụi hoặc mẩu vụn trẻ em hay nuốt. Chính phủ liên bang đã ban lệnh cấm dùng sơn có chì để sơn nhà vào từ năm 1978, nhưng những căn nhà cũ hơn có thể vẫn còn. Đất sỏi có thể mang chất này vào các rãnh kẽ hở. Nguồn nước sau đó sẽ đi qua lớp đất này qua các đường ống. Chủ nhà có quyền hỏi cơ quan kiểm định sức khoẻ về nguồn nước khử trùng mà mình sử dụng.

Thêm vào đó, một khi tay chân tiếp xúc với chì có thể mang về nhà sau khi làm việc. Chính phủ liên bang buộc công nhân làm việc với kim loại phải rửa tay sạch sẽ, tắm gội, và mặc đồ mới mỗi khi xong việc. Thức ăn và chất lỏng trong các chai thuỷ tinh có kim loại có thể bị nhiễm. Một số loại dược thảo dân gian có thể nhiễm chì. Và cuối cùng, chì thường được sử dụng trong một số thú tiêu khiển như làm đồ gốm hay điêu khắc thủy tinh, hoặc làm lại đồ gia dụng.


Tài liệu của Viện Pasteur TP.HCM chỉ rõ:

Đồ dùng bằng nhôm

Các gia đình vẫn thường dùng các dụng cụ đun nấu, chứa đựng thực phẩm làm bằng nhôm. Nhưng nếu dùng các đồ nhôm được chế tạo từ các nhôm phế liệu, gia công không đảm bảo công nghệ, xử lý không hết tạp chất, không tạo được bề mặt trơ với môi trường thì khi đun nấu, chứa đựng thực phẩm dễ tạo cơ hội thôi nhiễm các ion nhôm vào thực phẩm thì người ăn phải sẽ bị ảnh hưởng. Đặc biệt khi nấu mặn, dễ tạo ra muối nhôm gây độc cho cơ thể. Dùng đồ nhôm để chứa đựng thức ăn nóng, chua, mặn, bề mặt nhôm dễ bị rỗ, giải phóng các ion nhôm vào cơ thể, tích luỹ ở tế bào não, gây ra hội chứng “lú lẫn” sớm. Biểu hiện là trí nhớ giảm sút, phản ứng trì trệ, trí năng giảm, cử động chậm chạp…

Đồ dùng sành sứ

Dĩa, bát, chén, ly, tách... bằng sành, sứ ngày càng được con người ưa chuộng vì mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý. Nếu các đồ này không được sản xuất đảm bảo công nghệ an toàn như: không đạt nhiệt độ nung chuẩn, vẽ nhiều hoa văn, màu sắc, sử dụng phụ gia chì với nồng độ cao để làm cho phụ gia nhanh chảy ở nhiệt độ thấp... sẽ làm hàm lượng chì càng cao.

Các hoa văn phần lớn đều được dán đề can hoặc vẽ trên men và nung ở nhiệt độ thấp để giữ được màu sắc đẹp. Vì vậy không thể loại hết được chì. Các đồ sành sứ này khi tiếp xúc với thực phẩm có tính axit như: dưa chua, dưa nộm, rượu, bia, nước hoa quả, nước đường, canh nóng... chì trong bột màu sẽ thôi ra từng tý một. Khi lượng chì vào cơ thể tích tụ đến một mức nhất định sẽ gây ra ngộ độc. Một trong các cách hạn chế là ngâm đồ sứ mới mua về vào trong dấm, như thế sẽ làm tan phần lớn chì còn ứ đọng.

Đồ dùng bằng nhựa

Bản chất polymer không độc. Các chất có hại cho sức khoẻ chính là các monome và các chất phụ gia của chất dẻo được trộn vào trong quy trình sản xuất.

Các chất phụ gia có thể được sử dụng trong công nghiệp chất dẻo là các chất ổn định được sử dụng để ngăn ngừa sự thoái biến của chất dẻo. Như muối của axit béo, muối kim loại, chất xúc tác và các chất tăng tốc, chất bôi trơn, chất chống nấm, các dẫn xuất hữu cơ thuỷ ngân...

Trong đó, nhiều chất có khả năng gây độc chất Azoisobutyronitril (Porophor N) ở 1.900oC giải phóng ra N2 và Tetrametyl succinic dinitril, gây nhức đầu và co giật. Chất Methyl chlorua (CH3Cl) cũng rất độc, gây tổn thương thần kinh trung ương. Chất dẻo hoá: TOCP (Triorthocresylphosphat) làm tổn thương thoái hoá thần kinh ngoại biên và tuỷ sống…

Do lợi nhuận, nhiều cơ sở sản xuất đồ nhựa cố tình sử dụng các phụ gia độc hại không được phép trong sản xuất nhựa thực phẩm. Họ dùng nhựa tái sinh, tạo ra các sản phẩm nhựa kém chất lượng, khi dùng các đồ nhựa này để chứa đựng thực phẩm, nhất là thực phẩm là dầu mỡ, chua, mặn, nóng sẽ tạo cơ hội thôi nhiễm các chất độc vào thực phẩm gây ngộ độc cho người ăn.

Do vậy khi chọn chén, tô, dĩa, thìa… nên mua loại làm bằng nhựa melamine. Ly, dĩa, hộp thực phẩm chịu lạnh chọn sản phẩm bằng nhựa PP. Các dụng cụ chứa thực phẩm khô nên chọn sản phẩm nhựa PS, PSHI. Rổ, thau, chậu, xô nhựa nên chọn sản phẩm làm bằng nhựa PEHD. Máy xay sinh tố, vỏ bình cà phê... nên chọn sản phẩm nhựa PC, PMMA.

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2008

Táo ( apple ) và những lợi ích đối với sức khoẻ


1. Ngăn ngừa lão hóa và ung thư

Các nhà khoa học đã so sánh 1500mg vitamin C với 1 quả táo nhỏ, kết quả đáng ngạc nhiên là quả táo và lượng vitamin C này có lượng chất chống ôxy hóa như nhau.

Táo tươi có lượng chất chống ôxy hóa gấp 15 lần so với lượng vitamin C mỗi ngày nên dùng.

Các nghiên cứu trong ống nghiệm cũng chỉ ra rằng táo giúp ngừa sự phát triển của các tế bào ung thư gan và ung thư ruột kết. Táo nguyên vỏ có hiệu quả đặc biệt.

2. Tốt cho ruột và hệ tiêu hoá

Nhà nghiên cứu người Anh Giáo sư Burkitt đã đưa ra kết luận rằng táo giúp ngừa chứng táo bón. Quả và vỏ táo chứa từ 4 - 5gr chất xơ giúp ruột hoạt động tốt.

Táo còn rất tốt cho những người bị bệnh tiêu chảy do trong táo có chất pectin.

3. Giảm bệnh tim mạch

Lượng magiê và kali trong táo giúp điều chỉnh áp suất máu và giữ cho nhịp đập tim ở mức ổn định, chất chống ôxy hoá tự nhiên bảo vệ thành mạch máu ổn định.

Ăn táo trong chế độ ăn hàng ngày giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Các nghiên cứu thấy rằng những phụ nữ Nhật ăn nhiều hoa quả chứa quercetin sẽ ít bị các bệnh tim mạch hơn đồng thời giảm lượng cholesterol xấu.

4. Giảm đột quỵ

Táo là lựa chọn tối ưu giúp ngừa chứng đột quỵ. Các nhà khoa học đã tìm thấy sự liên quan rõ ràng rằng những người ăn táo đều thường ít bị đột quỵ hơn những người không ăn táo.

5. Bảo vệ khớp

Ở những nước có chế độ ăn nhiều rau và hoa quả sẽ rất ít bị viêm khớp. Ở những nước phát triển, các loại đồ đóng hộp và đồ ăn nhanh khiến 70% dân số bị mắc viêm khớp.

Cây táo hấp thu được chất boron từ đất vì thế ăn táo giúp giảm chứng viêm khớp.Tuy nhiên cần ăn 9 quả táo mỗi ngày mới cung cấp đủ lượng boron cần thiết cho cơ thể.

Bạn cũng đừng quá lo lắng vì có thể ăn kết hợp táo với vài thìa bơ lạc hay 1 nắm nho khô cũng đáp ứng đủ lượng boron cho cơ thể.

6. Tốt cho phổi

Phổi bị ảnh hưởng bởi khói thuốc, khói bụi, không khí ô nhiễm và phấn hoa... gây bệnh hen suyễn và các bệnh về phổi.

Để bảo vệ phổi, ngoài việc tập thở sâu mỗi ngày, ăn táo hàng ngày cũng rất tốt cho phổi.

Nghiên cứu tiến hành trong 5 năm với hơn 2.500 nam giới xứ Wales đã rút ra kết luận rằng những người ăn trên 5 quả táo mỗi tuần có thể cung cấp nhiều không khí cho phổi hơn những người không ăn táo.

Các chuyên gia tin tưởng rằng chất chống ôxy hoá trong táo giúp giảm sự phát triển các bệnh ở phổi.

Chọn và bảo quản táo đúng cách: - Chọn những quả táo không bị dập nát, cứng và có màu sắc tươi. Để táo trong túi bóng và cất trong tủ lạnh , vì táo rất dễ hấp thụ các loại mùi khác vì thế nên để táo tránh xa các loại củ nặng mùi như tỏi và hành.

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2008

Trái Cây Giàu Dinh Dưỡng, Giúp Cơ Thể Ngừa Ung Thư

Các chuyên gia tiết lộ rằng một thế hệ mới của loại "siêu thực phẩm" tức là loại thực phẩm rất cần thiết cho sức khỏe con người nhờ có chứa nhiều sinh tố C, sắt…hứa hẹn làm tăng sức khỏe lên gấp đôi, hoặc gấp ba, giúp con người ngăn ngừa bệnh tật một cách có hiệu quả.

Đứng đầu các sản phẩm này là trái kiwi. Stephanie Dean, R.D, chuyên gia về dinh dưỡng của Trung Tâm Y Khoa, đại học Baylor tại Dallas nói: "Trong một nghiên cứu gần đây, người ta nhận thấy rằng trái kiwi là một trong những loại trái cây có nhiều chất dinh dưỡng nhất trong nhóm 27 loại trái cây." Trái kiwi có nhiều chất antioxidants, loại làm chậm quá trình phân hủy tế bào, có chứa nhiều vitamin E và lutein, còn làm hạ mỡ trong máu, chống tắt nghẽn động mạch -cũng hiệu quả như loại siêu thực phẩm đứng hàng thứ nhì trong danh sách là lúa mạch.

Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ khám phá ra rằng lúa mạch đặc biệt có thể làm giảm tỉ lệ mỡ xấu trong máu của bạn tới 17.4%

Lúa mì có thể được cho vào xúp ngay ăn thay cho oatmeal cho bữa điểm tâm. Một món khoái khẩu có thể được sử dụng cho ngày lễ Tạ Ơn truyền thống là cranberries giúp ngừa đột quỵ và ung thư. Tiếp đến là một loại thức uống: kefir. Dean nói: "Kefir có chứa nhiều calcium. Mỗi ly 8 ounce chứa 300 mg calcium, chỉ ít hơn một chút mức mà một người lớn cần phải có trong ngày. Kefir không chứa nhiều calcium như sữa, nhưng có một lượng vi khuẩn cần thiết nhiều hơn sữa chua (yogurt).


Broccoli


Và cuối cùng là mầm bông cải (broccoli sprouts,) có chứa 20% thành phần chống ung thư nhiều hơn bông cải bình thường. Mầm bông cải được bán trong bọc và có thể ăn với bánh mì sandwiches, và một trong những loại salad hấp dẫn nhất.



Broccoli : Sprouts

New Research Finds High Levels Of Anti-Cancer Compounds in Broccoli Sprouts. Amazingly after 3 days sprouting, the compound Sulforaphane is between 10-100 times more concentrated in sprouting seed than in the mature vegetable - and it s a powerful blocking agent against cancer. Broccoli sprouts also contain Sinigrin which persuades the pre-cancerous cells to commit suicide. It is believed it has so powerful an effect that the occasional meal of young broccoli sprouts may destroy cancerous cells in the colon. They should always be eaten fresh with other salad vegetables, not cooked, and have a most pleasant tangy flavour. Full details supplied with each order. [Scientists believe that many vegetables have a beneficial effect on our general health. Broccoli sprouts are just one where recent discoveries can contribute to a healthy body. It is not T&M's intention to sensationalise these sprouts, but, in accordance with our practice over many years, to draw customers attention to important health providing properties in the vegetables we offer.

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2008

Đoán bệnh qua móng tay


Thỉnh thoảng bạn thấy có những chấm lạ xuất hiện trên móng, có thể bạn nghĩ đó là chuỵện bình thường. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, nó lại cảnh báo một nguy cơ bệnh tật nào đó. Trong việc chẩn đoán bệnh, các thầy thuốc tây y và nhất là đông y, ngoài việc bắt mạch còn quan sát, kiểm tra toàn diện cơ thể như: miệng, mũi, tai, mắt, lưỡi… và cũng không bỏ qua đôi bàn tay.

Xuất hiện trên móng những vệt đen: Những vệt đen trên móng tay, móng chân là dấu hiện của rối loạn hoc môn, thời kỳ đầu thai nghén hoặc do dùng thuốc chữa bệnh sốt rét.

Xuất hiện những chấm trắng: Bạn đừng vội nghĩ rằng mình thiếu can-xi, đấy là dấu hiệu của rối loạn tuyến giáp.

Xuất hiện những chấm vàng: Chắc chắn là bạn đang hút quá nhiều thuốc lá hoặc dùng thuốc tê-ta-xi-lin để chữa bệnh nào đó.

Móng dày và dễ vỡ: Móng tay đó của bạn có khả năng bị thay móng.

Móng quặp xuống và có màu xám: Kiểu móng này thường gặp ở những người mắc bệnh tim mạch hoặc phổi mãn tính.

Móng khô và dễ bị tổn thương: Đây là kết quả của việc cơ thể thiếu thiếu vitamin A, B hoặc E. Trong một số trường hợp khác đây là dấu hiệu thiếu sắt hoặc can-xi.

Móng bị lõm: Bạn đang bị thiếu sắt kinh niên, thiếu máu hoặc đang gặp những vấn đề về về gan.

Về màu sắc đôi bàn tay

- Bàn tay có màu sắc đỏ ửng cho phép thầy thuốc nghĩ tới bệnh cao huyết áp.

- Bàn tay có màu trắng xanh, lại có những gân xanh (tĩnh mạch) nổi lên, lúc nào cũng lạnh ngắt, nhớp nháp, ướt át mồ hôi, là dấu hiệu của suy nhược cơ thể, khí huyết xấu.

- Bàn tay đỏ hồng, nóng ran, mềm nhũn, ẩm ướt là biểu hiện của cường năng giáp trạng. Trái lại, bàn tay có màu trắng bệch, lạnh ngắt, khô ráo, thô ráp là biểu hiện thiểu năng giáp trạng.

- Bàn tay có màu xám là có bệnh ở gan.
- Bàn tay có màu vàng là dấu hiệu của bệnh thương hàn hay hoàng đảm.

- Bàn tay có màu vàng chanh là dấu hiệu của bệnh đái tháo đường.
- Bàn tay, ở tuổi 40 có màu vàng sẫm là biểu hiện của suy thận hay suy gan.

- Bàn tay có màu vàng sẫm, ở phía dưới ngón tay đeo nhẫn, thường có bệnh ở mắt hoặc thị lực giảm.

- Bàn tay có chấm xanh đen, ở giữa đường sinh đạo và đường trí đạo là dấu hiệu mắc bệnh thương hàn (đường sinh đạo bao bọc gò kim tinh (gò dưới ngón tay cái) chạy dài xuống đường cườm tay; còn đường trí đạo là đường ở giữa lòng bàn tay, đầu giáp với đường sinh đạo, đuôi hướng tới gò thái âm (ở sát cườm tay) đối diện với gò kim tinh).

- Bàn tay, có vết xanh đậm, ở chỗ trũng của lòng bàn tay thì thường bị táo bón thường xuyên, hoặc đau ruột, đau dạ dày, hoặc tinh thần khủng hoảng.

- Bàn tay mà các chỉ tay từ màu hồng biến sang màu trắng thể hiện bộ máy tiêu hóa trục trặc, có vấn đề.

- Bàn tay nam giới có vết xanh nhạt, ở gò thái âm, thường tình dục suy yếu, cơ quan sinh dục suy thoái.

- Bàn tay nữ giới có vết xanh nhạt ở gò kim tinh, nằm dưới ngón tay cái, thường có khả năng tình dục kém.

- Bàn tay phụ nữ mang thai, mà lòng bàn tay đỏ thì dễ sinh con trai, trái lại nếu có màu xám thì dễ sinh con gái.

Về màu sắc của móng tay

- Móng tay có màu vàng thường liên quan tới bệnh gan.
- Móng tay có màu tím thường liên quan tới bệnh tim mạch, huyết dịch, thiếu oxy.

- Móng tay có những đốm trắng thường liên quan tới chứng thiếu canxi.
- Móng tay có những đốm đen, thường liên quan tới bệnh phù thũng.

- Móng tay trắng xanh, mà đầu ngón có vết nhăn thường là khả năng thiếu máu.
- Móng tay có sọc dài thường là đau dạ dày, đau ruột. Phong thấp hay thiểu năng giáp trạng.

- Móng tay có màu xanh lại viền màu đỏ sẫm xung quanh thường là cơ quan bài tiết không bình thường hay bị trúng độc.

- Móng tay trẻ nhỏ có chấm trắng là tình trạng sức khỏe suy thoái.
- Móng tay người lớn mỏng và đen là báo động tình trạng bệnh nặng.

- Móng tay ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn có hình mặt trăng lưỡi liềm báo hiệu sức khỏe và khả năng miễn dịch giảm.


Đôi bàn tay và khả năng có con

Qua đôi bàn tay, các nhà khoa học Anh và Mỹ còn cho biết về năng lực tình dục cao hay thấp và có con dễ dàng hay không:

Người đàn ông có ngón tay đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ rõ rệt thì có năng lực tình dục cao, có mật độ testosteron cao, sẽ dễ dàng có con.

Còn ở phụ nữ thì ngược lại, nếu có ngón trỏ dài hơn ngón đeo nhẫn thì có năng tình dục cao, mật độ estrogen rất cao và cũng dễ dàng có con.

Nếu úp 2 bàn tay trái và phải của người đàn ông lại với nhau, các ngón tay của 2 bàn tay đều khớp ghịt với nhau thì khả năng có con và năng lực tình dục rất tốt. Nhận định này đã được xác minh ở một bệnh viện chuyên chữa trị vô sinh: Những người có đôi bàn tay úp vào nhau không khớp ghịt có lượng tinh trùng rất thấp.

Làm gì để có móng tay đẹp?

- Tránh ngâm tay, chân trong nước thường hoặc nước xà phòng quá lâu. Trong trường hợp bạn phải ngâm tay và chân lâu trong nước hãy đi găng tay và ủng.

- Không gặm móng tay hoặc lớp da dưới móng tay.

- Không nên dùng nước nóng để rửa tay. Tốt nhất là dùng nước mát và sử dụng những loại nước rửa dành riêng cho tay.

- Không để móng tay quá dài.

- Tốt nhất là dùng các dụng cụ dũa móng tay và móng chân. Không nên dùng kéo để cắt vì như vậy móng của bạn sẽ không được tạo dáng.

- Việc lạm dụng các loại thuốc đánh móng tay và chân sẽ làm cho móng trở nên khô và dễ gẫy. Chất a-xê-ton sẽ làm khô chân móng.

- Bổ sung vitamin B1, B2 và D để giúp móng được chắc khoẻ.

- Nếu móng chân và tay của bạn bị ố vàng, hãy dùng dấm để tẩy, móng của bạn sẽ sáng và trắng ra.

- Để vệ sinh phần trong của móng, hãy sử dụng bàn chải và một chút chất Sút-bicarbonate.

- Để làm trắng móng, mỗi tuần 2 lần, ngâm móng của bạn trong 250ml nước nóng cho có chứa 1 thìa cà phê nước oxy trong 10 phút.

- Để móng được chắc khoẻ, hãy ngâm móng trong 10 phút với một hỗn hợp 50ml dầu ô lưu nóng và một chút vitamin E.

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2008

Bệnh về móng


Cùng với răng và xương, móng là những bộ phận rắn chắc nhất trong cơ thể. Nó bảo vệ mạng lưới thần kinh dày đặc ở các đầu chi, làm tăng độ nhạy của xúc giác ở các đầu ngón tay, ngón chân. Sự thay đổi của móng cũng báo hiệu các vấn đề sức khỏe.

Trong điều kiện bình thường móng tay, móng chân có màu đỏ hồng, do được mạng lưới mao mạch ở hạ bì nuôi dưỡng. Trong móng tay, móng chân có 10% nước. Trong một tuần lễ, móng tay dài thêm ra khoảng 0,5-1,2 mm; móng tay mọc nhanh hơn móng chân khoảng 4 lần. Ngón tay càng dài thì móng mọc càng nhanh. Thời tiết càng ấm móng tay mọc càng nhanh, vì vậy mùa hè móng tay mọc nhanh hơn mùa đông, ban ngày mọc nhanh hơn ban đêm. Móng tay, móng chân của những người sống ở phương Nam mọc nhanh hơn những người ở phương Bắc. Tốc độ phát triển của móng tay còn phụ thuộc vào thói quen sử dụng tay phải hay tay trái, người thuận tay phải thì móng tay bên phải mọc nhanh hơn, người thuận tay trái thì tình hình hoàn toàn ngược lại.

Để cho móng phát triển bình thường, cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Ở những người bị mắc bệnh đường tiêu hóa hoặc mắc chứng chán ăn, móng tay, móng chân sẽ phát triển chậm, đồng thời trên móng còn có thể hình thành những rãnh ngang. Móng tay, móng chân ở những người bị suy dinh dưỡng thường dễ gãy hoặc bị nứt, vỡ thành nhiều mảnh. Dưới đây là một số biến dạng điển hình nhất:

Đầu móng tay quắp xuống giống như mỏ diều hâu: Có khả năng hệ nội tiết hoạt động không bình thường, tuần hoàn máu có một số rối loạn. Ngoài ra, ở người cao tuổi và những người đã từng mắc các chứng nghẽn tắc kinh mạch cũng có thể có móng tay hình dạng như vậy.

Đầu móng tay nở to ra như dùi trống: Do các đầu chi bị thiếu ôxy lâu dài, thường thấy ở những người bị mắc các bệnh đường hô hấp mạn tính như lao phổi, thũng khí phổi, các bệnh tim mạch, viêm loét đường tiêu hóa, xơ gan...

Móng tay hình cái thìa: Phần giữa lõm xuống, phần bao quanh vênh lên, giống như cái thìa. Dạng này có thể xuất hiện ở những người bị mắc bệnh tủy sống, chức năng tuyến giáp trạng bị trục trặc, trúng độc rượu hoặc bệnh phong thấp. Một số chuyên gia còn cho rằng, hiện tượng móng tay bị vênh lên như vậy có liên quan đến tình trạng cơ thể bị thiếu chất sắt, hằng ngày cần chú ý bổ sung thêm các thức ăn hàm lượng sắt cao.

Móng tay có rãnh: Trên móng tay xuất hiện những vệt lõm theo chiều ngang giống như lòng máng. Có thể do dinh dưỡng thiếu hụt hoặc một số căn bệnh có ảnh hưởng đến sự phát triển của móng tay như sởi, bệnh tim, thần kinh suy nhược.

Móng tay nổi gờ: Trên móng có những đường gờ nổi lên theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Gờ dọc thường do hay bị mất ngủ hoặc thức đêm liên tục. Móng tay người già cũng thường có gờ dọc. Nếu trên móng tay người trẻ tuổi có gờ dọc nổi lên, thì cần đặc biệt chú ý đến tình trạng sức khỏe. Gờ ngang thường thấy ở những người mắc các bệnh nhiệt cấp tính, bị trúng độc thuốc hoặc một số bệnh mạn tính như urê niệu, tiểu đường. Ngoài ra, bệnh thấp chẩn (eczema), viêm da, nấm da, hoặc gốc móng tay bị tổn thương cũng có thể khiến cho trên móng tay có những đường gờ.

Móng tay dày: Móng tay dày lên rõ ràng, khô, nhợt nhạt và dễ gãy là hiện tượng thường thấy ở người già; cũng thường xuất hiện trong những trường hợp như nấm móng tay, viêm móng tay, thiếu canxi, bệnh phong thấp, phù niêm mạc, các bệnh ở tủy sống hoặc bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng.

Móng tay mỏng: Móng tay mỏng hơn bình thường và ấn vào thấy đau thường gặp ở những người cơ thể bị suy nhược nặng, bị rối nhiễu thần kinh và khi mắc phải một số bệnh mạn tính có tính tiêu hao.

Mảng trắng hình bán nguyệt ở gốc móng tay: Thường gọi là “móng bán nguyệt”. Những mảng loại này ở nam giới có kích thước lớn hơn nữ giới; “bán nguyệt” trên ngón cái lớn nhất, sau đó nhỏ dần theo trình tự ngón trỏ - ngón giữa - ngón đeo nhẫn (vô danh). Thông thường chỉ có hai ngón út là không có bán nguyệt. Bán nguyệt nhỏ, số lượng ít, thường thấy ở “thực chứng” (bệnh cấp tính) và “dương hư” (suy giảm chức năng) - theo phân loại chứng trạng trong Đông y. Bán nguyệt lớn, số lượng nhiều thường thấy ở những người khí huyết thịnh vượng hoặc các bệnh “âm hư dương thịnh”, dễ bị trúng phong.

Móng tay giòn: Móng tay mỏng đi, giòn, dễ gãy, có những vết nứt theo chiều dọc hoặc các lớp móng tay bị tách rời thường thấy ở những người bị rối loạn tuần hoàn ngoại vi, thiếu ôxy, khí thũng phổi, nang lông bị hóa sừng, thiếu vitamin. Loại móng tay này còn rất dễ bị nứt vỡ khi ngâm lâu trong nước xà phòng hoặc nước muối.

Móng tay bị bong ra: Thường thấy ở những người bị mắc một số bệnh toàn thân như cường năng tuyến giáp (Basedow), thiếu máu, rối loạn tuần hoàn ngoại vi...

Móng tay trắng bệch: Đại bộ phận da dưới móng trắng bệch, chỉ còn lại phần cuối móng tay là vẫn còn màu hồng như thường. Dạng này thường thấy ở những trường hợp mất máu cấp tính, thiếu máu, có thể là triệu chứng sớm của bệnh xơ gan.

Móng tay bị vàng: Móng tay trở nên dày và cứng, mọc chậm, có màu vàng hoặc vàng lục. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này có thể là các bệnh thuộc hệ hô hấp hoặc bệnh tuyến giáp trạng. Ngoài ra, bệnh viêm gan vàng da cũng có thể khiến cho móng tay bị vàng.

Móng bị đen: Móng tay hoặc móng chân biến thành màu đen hoặc màu nâu, có thể là do bị ung thư hắc tố (melanoma). Bệnh tình càng nghiêm trọng khi phần đầu móng bị biến thành màu đen hoặc màu nâu. Móng có thể bị biến sắc theo từng điểm hoặc từng mảng; các móng tay cái và móng chân cái là những vị trí dễ bị biến sắc nhất.

Móng tay có chấm đỏ: Dưới móng tay xuất hiện những điểm đỏ, có thể do bị xuất huyết mao mạch, có thể do tăng huyết áp, bệnh ngoài da hoặc cơ thể tiềm tàng một số bệnh nghiêm trọng.

Móng tay có đốm trắng: Dưới móng tay xuất hiện những điểm hoặc những đốm màu trắng, có thể do giun đũa hoặc trước đó ít lâu đã bị cúm. Những người dễ mệt mỏi, thiếu canxi... trên móng tay cũng có thể xuất hiện những điểm trắng.

Móng tay tím: Móng tay biến thành màu tím thường là do ứ huyết và thiếu ôxy; dạng này thường thấy ở những người mắc các bệnh tim mạch.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)


Cùng với sự phát triển của cơ thể, móng tay chân cũng có quá trình phát triển của riêng nó, móng với hợp chất chủ yếu được xác định là keratin protein, có một vai trò nhất định trong cuộc sống con người và trong lĩnh vực làm đẹp. Móng vì thế, như các chuyên gia nhận xét, bản thân nó phản ảnh một tình trạng sức khoẻ nào đó của con người

Hiểu biết về móng, nhất là các bệnh về móng sẽ giúp bạn biết cách chăm sóc và bảo vệ chúng. Thường bệnh về móng được hiểu là các triệu chứng rối loạn về móng. Bệnh về móng thường gồm các loại sau:

1. Móng bị mất màu (Discolored nails):

Bệnh trạng: Móng đổi màu thành vàng, xanh xám, xanh hay đỏ, tím.

Nguyên nhân: Do tuần hoàn máu kém.

Giải pháp: Che dấu tình trạng này bằng móng giả, móng wrap hoặc sử dụng nước sơn màu.

2. Móng bị xước (Hang nails):

Bệnh trạng: Da quanh móng bị xước ra.

Nguyên nhân: Do da quanh móng (culticle) bị khô hay do bị cắt sát vào móng quá nhiều.

Giải pháp: Bôi dầu và tỉa da bị tróc để làm mềm lớp cuticle.

3. Móng bị bầm tím (Bruised nails):

Bệnh trạng: Có máu bầm tụ dưới thân móng, có khi ngả màu từ tím sang đen.

Nguyên nhân: Do nail bed (nền móng) bị tổn thương.

Giải pháp: Có khi móng tự rụng đi trong quá trình lành bệnh, trong trường hợp này không nên làm móng giả.

4. Móng gợn sóng (Furrows):

Bệnh trạng: Xuất hiện gợn sóng dọc chiều dài hoặc chiều ngang móng.

Nguyên nhân: Thường do bệnh vẩy nến gây ra (Psoriasis) hoặc do tuần hoàn máu kém hay bị tê cóng. Đôi lúc là người lớn tuổi triệu chứng này lại được xem là bình thường do tuổi tác. Có khi do sốt cao, có thai, hay do bệnh nhức đầu ở trẻ em hoặc do cơ thể thiếu chất kẽm cũng gây ra các triệu chứng này.

Giải pháp: Đánh bóng móng bằng bột đánh bóng, để làm ngắn những đường lằn này, phần lằn còn lại dùng chất Ridge Filler làm dầy và dùng sơn màu phủ lên, giúp cho móng trông nhẵn và khỏe lại.

5. Móng có các chấm trắng nhỏ (Móng bị hột gạo – Leuconychia):

Bệnh trạng: Xuất hiện các đốm trắng nhỏ trên bề mặt móng, có khi gọi là móng bị hột gạo.

Nguyên nhân: Móng bị tổn thương do chịu lực ép mạnh hoặc do khách dùng móng hay mũi móng quá độ hay với cường độ mạnh.

Giải pháp: Giải thích cho khách hiểu không cần xử lý, móng sẽ tự lành, nhưng cần tránh các tác nhân gây ra kể trên, để tránh tiếp tục làm xấu móng đi.

6. Móng bị rụng (Onychatrophia):

Bệnh trạng: Móng bị rụng dần.

Nguyên nhân: Do tổn thương Nail matrix hay do bệnh nội thương.

Giải pháp: Nếu dùng dũa thì nên sử dụng giũa giấy giũa móng bằng mặt mịn và phải hết sức cẩn thận.

Theo XinhXinh

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2008

Vitamin D Trong Nắng Sớm Giúp Giảm Nguy Cơ Ung Thư


Một báo cáo mới của các chuyên viên nghiên cứu Hoa Kỳ cho biết : Nếu cơ thể bạn đang bị thiếu vitamin D, hãy phơi mình dưới ánh nắng ban mai mỗi ngày một ít sẽ giúp bạn giảm nguy cơ ung thư da.

Richard B. Setlow, PhD, nhà nghiên cứu vật lý - sinh học danh tiếng của viện nghiên cứu năng lượng quốc gia Brookhaven in Upton, New York cho biết: “Ánh nắng mặt trời rất tốt cho sức khỏe của bạn, nó có thể giúp giảm nguy cơ tử vong từ các căn bệnh ung thư nội tạng trong cơ thể con người”. Ông cũng là tác giả của các công trình nghiên cứu cùng với các nhà khoa học của trường Norways University of Oslo và viện nghiên cứu ung thư Cancer Research in Montebello.

Richard B. Setlow nhận định “Hấp thụ ánh nắng mặt trời qua da giúp cơ thể chúng ta có thêm vitamin D, điều này giúp giảm nguy cơ tử vong từ các căn bệnh ung thư vú, ung thư ruột, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư phổi. Nhưng nếu bạn phơi nắng quá nhiều và quá lâu dưới cơn nắng gay gắt, bạn sẽ có nguy cơ mắc khối u ung thư da ác tính”.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thiết bị hiện đại để đo lượng vitamin D được hấp thụ vào cơ thể con người khi phơi dưới ánh mặt trời với những vùng dân cư của các quốc gia gần và xa xích đạo khác nhau.

Họ đã khám phá ra những người sống ở Australia hấp thu gấp 3.4 lần lượng vitamin D từ ánh sáng mặt trời hơn những người sống ở U.K. (do Australia ở gần đường xích đạo hơn U.K.), người dân Scandinavian cũng hấp thu 4.8 lần lượng vitamin này.

Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra tỷ lệ sống sót từ những căn bệnh ung thư ở mỗi vùng miền cũng khác nhau do họ chịu tác động ảnh hưởng từ ánh nắng mặt trời trong những điều kiện khác nhau. Những ai thường nạp vitamin D từ ánh nắng mặt trời sẽ giảm được nguy cơ tử vong từ các căn bệnh ung thư ruột, ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt.

“Vitamin D trong ánh nắng mặt trời làm giảm nguy cơ tử vong từ những căn bệnh ung thư trong nội tạng con người”, Setlow khẳng định.

Chuyên đề này sẽ được đăng trên trên tạp chí the Proceedings of the National Academy of Sciences và sẽ được phát hành trong ấn bản số ra ngày Jan.15.2008.

Mr. Cedric Garland, DPH, Giáo sư đại học Y khoa ở California, San Diego, người đã có các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Vitamin D - ánh nắng mặt trời - và nguy cơ ung thư cho biết: “Các công trình nghiên cứu của chúng tôi đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học vì đã khám phá ra một điều quan trọng đó là Sự thiếu hụt Vitamin D là một trong những nguyên nhân gây ra ung thư vú (breast cancer), ung thư ruột (colon cancer), ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer), ung thư buồng trứng (ovary cancer), ung thư tụy tạng (pancreas cancer)” .

Lời khuyên về việc bổ sung Vitamin D từ ánh nắng mặt trời

Lời khuyên của Mr. Garland: Hãy tăng việc nạp vitamin D vào cơ thể bạn, đặc biệt nếu bạn cảm thấy còn thiếu hụt lượng vitamin này. Hãy bổ sung 1,000- 2,000 IU vitamin D mỗi ngày bằng cách phơi nắng sáng 10 -15 phút, hãy phơi ra 40% làn da trên cơ thể bạn. Tham khảo ý kiến bác sĩ cũng là một điều cần thiết. Bạn sẽ thấy hiệu quả thật tuyệt vời khi hàm lượng vitamin D sẽ gia tăng trong máu của bạn giúp tăng chức năng bảo vệ phòng ngừa bệnh tật - ung thư.

Bạn cũng có thể bổ sung Vitamin D từ các loại thực phẩm hoặc thuốc men. Nguồn thực phẩm giàu vitamin D từ các loại cá hồi, cá thu, các loại sữa giàu vitamin D & Calcium. Bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ khi dùng thuốc men chứa vitamin D.

LƯU LY (Source: WebMD)