Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2008

Sự thật quanh chuyện giảm cân

Tập thể dục có tác dụng rất tích cực trong chiến dịch giảm cân

Bạn hoa mắt trước 1001 các phương pháp giảm cân và đôi khi hoang mang khi có thông tin rằng thực hiện chế độ giảm cân không hề tốt cho sức khỏe có khi còn khiến bạn tăng cân hơn. Vậy đâu thực sự là lời khuyên cho bạn? Hãy tham khảo những hỏi đáp dưới đây biết đâu bạn sẽ tìm thấy đáp án cho mình:

1. Tôi có nên massage xông hơi để giảm béo?

Massage và xông hơi mang ý nghĩa chính là giúp bạn thư giãn và giải tỏa độc tố. Nước dư thừa sẽ được loại bỏ sau khi xông hơn nên sau khi xông bạn thấy người nhẹ nhõm, cân nặng giảm xuống từ 0,5kg đến 1kg. Số kg thừa này sẽ rất nhanh chóng quay trở lại sau khi bạn bù đủ nước vì vậy để thực sự làm gầy từ 3kg trở lên thì không thể sử dụng phương pháp này.

2. Tôi có nên đi phẫu thuật hút mỡ để giảm béo?

Hút mỡ là giải pháp nhanh nhất để giảm mỡ nhưng bạn sẽ phải chịu đau đớn khi hút mỡ, sau khi hút mỡ da thường bị lão hóa sớm và nhăn nheo. Dù có thể giảm ngay lập tức nhưng mỡ sẽ lại nhanh chóng lấp đầy các khoảng trống trước đây và bạn sẽ lại y như cũ hoặc phì nhiêu hơn nếu không có biện pháp "bảo tồn" dài lâu như kiêng cữ thật tốt và tích cực vận động.

Mặt khác, phương pháp này tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thậm chí có thể gây tử vong. Phương pháp phẫu thuật mới được phát triển gần đây là phương pháp thắt đai dạ dày. Tuy nhiên phương pháp này chỉ dùng cho những bệnh nhân bị béo phì nặng, không dùng cho người bị béo thông thường.

3. Ăn kiêng có phải là biện pháp tốt nhất?

Ăn kiêng là phương pháp giảm cân dựa trên nguyên tắc giảm lượng nạp vào thấp hơn năng lượng thải ra để buộc cơ thể sử dụng năng lượng thừa. Phương pháp cổ điển này phát huy hiệu quả khá tốt. Nhiều người đã lạm dụng ăn kiêng để cơ thể rơi vào trạng thái suy nhược nặng, gây ngất xỉu, dẫn đến bệnh chán ăn kinh niên, ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm lý. Muốn có chế độ ăn uống hợp lý nhất, hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ dinh dưỡng.

4. Có gì sau nếu tôi theo chế độ giảm cân càng nhanh càng tốt?

Không có loại thuốc thần kỳ nào làm giảm cân nhanh chóng được. Những chương trình ăn kiêng quảng cáo hùng hồn hứa hẹn giảm nhiều kg một tuần. Đó là những thực đơn ăn kiêng rất nghèo năng lượng chỉ toàn là chất lỏng có thể sẽ dẫn tới sự sụt cân tạm thời trong một thời hạn ngắn, nhưng về lâu về dài chúng hoàn toàn thất bại và còn nguy hiểm cho sức khỏe của bạn nữa.

Giảm cân càng nhanh càng dễ gây hại cho cơ thể vì cơ thể không được chuẩn bị để thích nghi với trạng thái thiếu năng lượng nên sẽ dễ gây tụt huyết áp, hại sức khỏe... Đối với thể tạng của người Châu Á, tốc độ giảm cân an toàn được quy định từ 1-3kg/1 tháng. Các biện pháp giảm cân có thể sử dụng trong vòng 3 tháng, sau đó nên nghỉ 3 tháng mới tiếp tục giảm cân (nếu cơ thể vẫn thừa cân).

5. Tập thể dục có vai trò ra sao trong chiến dịch giảm cân?

Vì các mô mỡ trong cơ thể hoạt động rất kém nên chúng không tiêu thụ được calo. Chỉ có các tế bào cơ mới làm được điều này, càng nhiều mô cơ, cơ thể bạn hấp thụ calo, giảm mỡ và tránh được mỡ tốt hơn. Mô mỡ càng nhiều, bạn có thể ăn nhiều mà không lên cân.

Những bài tập aerobic, chạy bộ, đi bộ, bơi lội, đạp xe hoặc bất kỳ bài tập nào có sử dụng cơ bắp đều hiệu quả. Phương pháp giảm cân dựa trên nguyên tắc tăng tiêu thụ năng lượng để kích thích chuyển hóa lượng mỡ dư thừa thành năng lượng cho cơ vận động. Tuy nhiên thể dục sẽ kích thích ăn uống tốt hơn nên có nguy cơ lượng thức ăn đưa vào cơ thể sau khi tập thể dục sẽ lại cao hơn và gây tích lũy mỡ. Vì vậy cần phải kết hợp phương pháp này với một chế độ ăn hợp lý.

6. "Thuốc giảm béo" hiệu quả đến đâu?

Trên thế giới và ở nước ta, nhu cầu về thuốc giảm béo (TGB) đang có xu hướng ngày càng tăng. Các loại TGB thường có yếu tố làm giảm cảm giác ngon miệng do đó ăn giảm đi nhờ chất Sibutramin, tuy nhiên nó cũng có tác dụng không mong muốn là tăng huyết áp, nhức đầu, mạch nhanh...

Chất Orlistat ngăn cản men thủy phân chất béo ở ruột, tác dụng phụ là phân có nhiều mỡ, bởi lẽ dầu mỡ không được hấp thu sẽ được thải ra theo phân nhờn hoặc lỏng. Chất Carnitine làm tăng phân giải chất béo của cơ thể, tạo thêm năng lượng cho các tế bào, do đó giảm tích tụ mỡ có tác dụng giảm béo phì...

Loại TGB từ thảo dược có tác dụng làm tăng tiêu hao năng lượng của cơ thể; hay là tăng chuyển hóa chất béo; tăng khả năng khử các gốc tự do, chống béo phì. Một hướng khác không tốn công chiết xuất, mà dùng ngay cây cỏ thiên nhiên, bào chế pha uống như kiểu pha trà gọi là "trà giảm béo". Dùng TGB có nguồn gốc thảo mộc phần lớn là không độc hại, nhưng hiệu quả giảm béo thường không rõ ràng, nên khả năng tiêu thụ thuốc còn hạn chế.

Các TGB đều mang tính tạm thời, sau khi ngừng thuốc sẽ béo trở lại. Đó là chưa nói tới các TGB có những tác dụng phụ nguy hại. Bởi vậy TGB chỉ nên coi là thứ hỗ trợ thêm, còn phương pháp giảm béo chủ yếu là điều chỉnh lại chế độ ăn hợp lý và năng vận động chân tay, tập thể dục thể thao có tác dụng tích cực giảm béo, mà cơ thể khỏe mạnh.

7. Có cách để giảm béo cho những người thiếu kiên trì không?

Xin trả lời ngay: "bó tay"

Tuy nhiên để tạo "cảm hứng" cho những người thiếu tính kiên nhẫn là khi vào bữa ăn bạn không nên ăn cơm ngay. Nên ăn rau trước sau đó dùng một chén cơm nhỏ bạn sẽ không còn cảm giác đói bụng nữa. Mỗi ngày bạn nên tự vận động khoảng 10" sẽ giúp cơ thể săn chắc hơn nhưng điều quan trọng nhất là bạn phải kiên trì. Bạn nghĩ nếu bạn kiên trì một chút chỉ vài tháng thôi bạn sẽ trở thành "gọn ghẽ" hơn, rất tuyệt phải không nào?

8. Cellulite là gì?

Cellulite là thuật ngữ dùng để chỉ những vùng da không mịn màng như có một mạng những đường màu trắng nhạt hơn gồ lên dưới da, những nếp gấp, nhão, mềm, không bằng phẳng không sần sùi như vỏ cam sành lồi lên xung quanh vùng hông, mông. Cellulite do một loại hormone gây ra, hormone này làm dày và cứng các sợi collagen bao xung quanh những tế bào mỡ. Không dễ để loại bỏ hoàn toàn cellulite. Dưới đây là một số giải pháp giúp bạn phần nào:

Dùng kem: Các sản phẩm mới nhất chứa các thành phần làm căng da, tăng collagen có thể cải thiện tình trạng này.

Máy laser chuyên dụng tạo ra nhiệt năng để phân hủy tế bào mỡ và đào thải ra ngoài cơ thể qua hệ bài tiết.

Chế độ ăn chống cellulite: Uống nước khoáng, hạn chế thức uống có cồn, không ăn mặn và đồ ăn có nhiều muối, luôn uống nhiều nước, cắt giảm các loại thức ăn, thức uống có chứa caffeine và thay thế bằng trà xanh. Thận trọng với các loại thức uống có ẩn chứa thành phần caffeine trong đó như các loại thức uống có gas, nước ngọt, chocolate. Ăn nhiều hơn các loại thức ăn cung cấp nhiều chất xơ, các loại bánh mì ngũ cố nguyên hạt, trái cây và rau cải xanh lá. Tránh những thức ăn quá nhiều năng lượng. Tránh ăn nhiều các loại thức ăn nhanh, dầu mỡ nhiều hay những loại thức ăn chứa nhiều chất béo.

Theo NetLife

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2008

Vì sao phải cạo vôi răng ?


Nếu muốn có một hàm răng khỏe và một nụ cười đẹp, cùng với việc vệ sinh răng miệng hằng ngày, bạn nên đi lấy vôi răng thường xuyên. Vi khuẩn, virus và nấm, có đặc điểm liên kết thành “màng sinh học” tồn tại và phát triển mạnh trong môi trường mảng bám răng. Chúng rất dễ tấn công vùng xung quanh răng bao gồm các mô quanh răng, giữ cho răng ở đúng vị trí. Vi khuẩn và các mầm mống khác có thể gây viêm lợi, biểu hiện với triệu chứng như đỏ lợi, chảy máu (tự phát hay do đánh răng), sưng lợi, thậm chí là cảm giác nhói nhói hay đau lợi.

Lâu dần, viêm lợi có thể phá hủy nhiều hay một phần vùng quanh răng và tấn công vào răng làm tổn hại xương. Cuối cùng, do lợi không còn bám chặt vào răng nữa sẽ xuất hiện những hố lõm trên vùng quanh lợi tạo thành một nơi tập trung lý tưởng cho vi trùng, dẫn đến các bệnh viêm quanh răng. Vì vậy, bên cạnh việc đánh răng thường xuyên, nhiều lần trong ngày, sau mỗi bữa ăn, tốt nhất là 3 phút, tối thiểu là 2 phút mỗi lần, làm sạch các kẽ răng, chúng ta cần phải lấy cao răng và láng mặt gốc răng để loại trừ hầu như toàn bộ vi khuẩn và những mầm mống khác.

Tần suất lấy vôi răng tùy thuộc vào chất lượng vệ sinh răng miệng hàng ngày và những yếu tố nguy cơ khác gây ra.

(Theo Santé)

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2008

Sinh Tố D và Ánh Sáng Mặt Trời


Sinh tố D là một chất bột mầu trắng, không mùi, hòa tan trong mỡ, không hòa tan trong nước, không bị phân hủy ở nhiệt độ cao và không bị oxy hóa. Do đó sinh tố này không bị mất đi trong quá trình chế biến hoặc bảo quản thức ăn.

Sinh tố D có dưới nhiều dạng và mỗi dạng có tác dụng riêng. Calciferol là hình thức có tác dụng mạnh nhất.

Gan và thận giúp chuyển hóa sinh tố D tiêu thụ trong thực phẩm hoặc do tác dụng của tia nắng sang dạng hormone 1.25 dihydrooxyvitamin D. Hormon này gửi tín hiệu cho ruột non để tăng hấp thụ calci và phosphor.

Công dụng
Sinh tố D rất cần cho sự tăng trưởng của xương và răng.
Sinh tố duy trì chất calci và phospho trong máu ở mức bình thường bằng cách điều hòa sự hấp thụ hai khoáng chất này từ thực phẩm.

Nếu không có sinh tố D, calci trong thực phẩm không được ruột non hấp thụ, cơ thể sẽ lấy calci dự trữ trong xương ra để cung ứng cho nhu cầu khác của các cơ quan, bộ phận.
Một số chuyên gia y tế cho rằng sinh tố D có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột già, vú và các bệnh phong nhức khớp, nhưng vấn đề này vẫn còn đang trong phạm vi nghiên cứu.
Một số nghiên cứu khác cho là sinh tố D có khả năng duy trì tốt hệ miễn dịch, giúp tế bào tăng trưởng và phân sinh thành các loại đặc biệt

Nguồn cung cấp
Thực phẩm cung cấp rất ít sinh tố D, nhưng may mắn là thiên nhiên giúp chúng ta tạo ra loại sinh tố này qua tác dụng của ánh nắng mặt trời chiếu trên da.
Tia cực tím của nắng biến hóa chất ergosterol dưới da thành một loại sinh tố D rồi gan và thận tiếp tay biến thành sinh tố D hữu hiệu cho cơ thể. Chỉ cần phơi nắng 10-15 phút, hai hoặc ba lần mỗi tuần là có đủ lượng sinh tố D cần thiết. Vì lẽ đó, sinh tố này còn được gọi là “Sinh tố Ánh Nắng” Sunshine Vitamin).

Điều cần lưu ý là:
-Nên tắm nắng vào buổi sáng khi tia nắng còn dịu hoặc xế chiều khi nắng không gay gắt;
-Không nên bôi quá nhiều kém chống nắng vì kem ngăn tia cực tím hấp thụ qua da.
-Nên phơi mình trần càng nhiều càng tốt.
-Cẩn thận để da khỏi bị cháy nắng và có thể gây ung thư da.

Lượng sinh tố D do nắng tạo ra thay đổi tùy theo thời gian và mức độ tiếp cận với ánh sáng.
Da có mầu đậm cản ánh sáng tới 95%, quần áo và cửa kính, không khí ô nhiễm cũng cản tia tử ngoại vào da; mùa đông ít ánh nắng hơn mủa hè.
Các loại cá béo như cá trích (bloater, herring), cá thu (mackerel), cá hồi (salmon), cá ngừ (Tuna), cá sardine là nguồn cung cấp chính của sinh tố D. Cá ăn các sinh vật phù du (plankton) phơi mình trên mặt biển nắng chói.
Gan, lòng đỏ trứng, bơ có một ít sinh tố D.
Rau trái hầu như không có hoặc chỉ có vài dấu vết sinh tố D
Sữa người và sữa bò có rất ít sinh tố D. Vì thế, các thứ sữa và thực phẩm dùng cho trẻ sơ sinh đều được bổ sung sinh tố D, chẳng hạn như một lít sữa thường được bổ sung 10mcg sinh tố D (tương đương với 400 IU).
Ngoài ra, ngũ cốc khô ăn sáng, bánh mỳ, margarine, nước trái cây cũng thường được cho thêm sinh tố D.
Sinh tố D được ruột non hấp thụ với sự trợ giúp của mật.
Phần lớn sinh tố D được dự trữ ở tế bào mỡ, xương và thịt, một số nhỏ ở gan, óc, phổi và thận.
Phần không dùng tới hầu hết được bài tiết theo phân, chỉ có dưới 4% theo nước tiểu ra ngoài.
Nhu cầu
Viện Y học Hoa Kỳ đề nghị mỗi ngày nên tiêu thụ khoảng 5mcg (tương đương với 200 IU) và không nhiều quá 10mcg (tương đương với 400IU)
Tuy nhiên, một số nhà dinh dưỡng khác, như bác sĩ người Canada Reinhold Vieth, lại cho rằng cơ thể cần số lượng sinh tố D cao hơn, khoảng 4000IU/ ngày.

Thiếu sinh tố D
Thiếu sinh tố D có thể đưa đến bệnh còi xương ở trẻ em (ricket), mềm xương (osteomalacia) ở người cao tuổi và xơ cứng mạch máu.
Trong bệnh còi xương, xương mềm và biến dạng, xương ngực nhô về phía trước (pigeon breast), xương sọ chậm khép kín, xương sống cong, răng sữa chậm mọc, răng khôn mỏng manh, men răng mau hư. Tất cả đều là do thiếu calci và phosphor trong xương.
Thiếu sinh tố D xảy ra khi:
*Tiêu thụ ít hơn số lượng được khuyến khích
*Ít tiếp xúc với tia nắng
*Thận không chuyển hóa sinh tố D sang dạng hormone
*Cơ thể không hấp thụ được sinh tố D ở ruột
Người dị ứng với sữa hoặc ăn rau thuần túy đề dễ bị thiếu sinh tố D. Trẻ em chỉ nuôi với sữa mẹ cũng thiếu sinh tố D, nếu các em không được dùng thêm calci phụ.

Những trường hợp sau đây cần dùng thêm sinh tố D:
-Em bé nuôi với sữa mẹ.
-Người trên 50 tuổi. Lý do là da của họ không tổng hợp hữu hiệu được sinh tố D và thận cũng kém chuyển hóa sinh tố D thành dạng kích thích tố.
Theo thống kê, có từ 30-40% người cao tuổi bị gãy xương hông vì thiếu sinh tố D. Do đó lớp người này có thể được bảo vệ hơn, nếu dùng thêm sinh tố D.
-Những người ít tiếp xúc với mặt trời như cư dân miền bắc cực, dân chúng mặc quần áo chùm kín cơ thể, người làm việc trong không gian không có mặt trời.
-Người da mầu, có nhiều chất màu melanin bao phủ khiến tia tử ngoại không xâm nhập được vào da.
Người có rối loạn hấp thụ chất béo như trong bệnh viêm ruột (bệnh Crohn), bệnh xơ nang tụy tạng (cystic fibrosis), bệnh gan, tụy tạng, giải phẫu cắt bỏ một phần bao tử hoặc ruột.

Thừa sinh tố D
Dùng sinh tố D với liều lượng lớn như trên 50mcg trong một ngày (tương đương 2000 U.I) có thể gây ra nôn mửa, táo bón, ăn không ngon, mết mỏi, xuống cân, tăng lượng calci trong máu, rối loạn tâm trí.
Quá cao calci trong máu có thể đưa tới rối loạn nhịp tim, kết tụ calci vào các tế bào tim, mạch máu, thận, phổi.
Các giới chức dinh dưỡng định mức độ tối đa sinh tố D mà cơ thể chịu đựng được là 25µ (1000IU) cho trẻ em tới 12 tháng; 50µ (2000IU) cho trẻ em, phụ nữ có thai và mẹ cho con bú sữa của mính.
Một số nghiên cứu cho hay, phụ nữ có thai và trẻ em sơ sinh dùng nhiều sinh tố D quá thì van tim thu hẹp, em bé bị chậm phát triển trí não và khuyết tật.
Thường thường chỉ khi dùng sinh tố D phụ thêm thì mới có nguy cơ này. Vì thế, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức ( Y Dược Ngày Nay )

Chữa Cơn Nóng Bừng Của Tuổi Hết Kinh


Trời buổi tối đang mát dịu lại sau một ngày oi bức. Tuy nhiên, tôi bỗng cảm thấy người nóng bừng lên như đang ở gần lò lửa, mồ hôi tôi chẩy ra, mặt tôi đỏ lên. Tôi quay lại hỏi nhà tôi:
- Anh có thấy là nhà hôm nay nóng không?
Ổng trả lời ngon lành:
- Không. Đâu có gì nóng đâu.
Thật ra hỏi để cho chắc thôi, chứ thực ra tôi biết mình đang bị lên cơn nóng bừng (hot flashes), một triệu chứng khó chịu thông thường xẩy ra cho những bà ở thời kỳ hết kinh.

Trong vài năm qua, những triệu chứng của thời kỳ hết kinh (menopause) của các bà được biết đến nhiều hơn bao giờ hết do kết quả những cuộc nghiên cứu về các tai hại của thuốc kích thích tố estrogen và progesterone mà bác sĩ thường cho các bà uống để thay thế những chất do chính buồng trứng của các bà nay đã hết làm việc nên không tiết ra nữa. Trong những triệu chứng của thời kỳ hết kinh, cơn nóng bừng là một triệu chứng khó chịu nhất vì khác với những nguy cơ khác, nó xẩy ra ngay và rất "thật", ảnh hưởng ngay đến cuộc sống của các bà.
Do kết quả các cuộc nghiên cứu cho thấy chất estrogen và progesterone, những chất chữa cơn nóng bừng rất hiệu nghiệm, có thể có nhiều nguy hại, hiện nay nhiều người đã “sợ” và ngưng uống thuốc. Do đo, có nhu cầu tìm những cách chữa khác.

Cơn nóng bừng là gì?
Theo ước lượng, có đến 3 trong số 4 bà tuổi hết kinh bị triệu chứng cơn nóng bừng, nhiều người bị lâu đến 5 năm hay hơn sau khi tắt kinh. Một số người chỉ bị nhẹ và không thường xuyên, số khác lại bị rất nặng và nhiều lần mỗi ngày.
Cơn nóng bừng làm nạn nhân:
1. Cảm thấy một sức nóng có thể ít hay nhiều lan dần khắp người lên đến mặt.
2. Mặt đỏ bừng.
3. Da mặt, lưng và tay có từng đốm đỏ
4. Tim đập nhanh, mồ hôi vã ra
5. Khi cơn nóng bừng dịu xuống, cảm thấy lạnh.
Cơn nóng bừng có thể kéo dài từ 30 giây tới 30 phút, nhưng phần lớn sẽ hết sau 5 phút. Chúng cũng xuất hiện rất bất thường, có thể mỗi giờ hoặc chỉ thỉnh thoảng. Ban đêm, cơn nóng bừng có thể làm các bà tỉnh giấc nồng. Các bà có thể bị cơn nóng bừng khoảng 1 năm hay hơn. Có bà không bao giờ bị cơn nóng bừng cả.

Cái gì đã gây ra triệu chứng cơn nóng bừng? Hiện nay chưa có câu trả lời thỏa đáng. Ta chỉ có thể đoán rằng cơn nóng bừng là do những thay đổi của những chất hóa học trong óc do giảm lượng chất estrogen trong máu xẩy ra vào thời kỳ hết kinh.

Cách chữa cơn nóng bừng
Thay đổi lối sống: bước đầu tiên
Thay đổi lối ăn uống và lối sống có thể làm giảm bớt triệu chứng cơn nóng bừng.
1. Giữ cho mát: Sự tăng nhiệt độ của cơ thể, dù chỉ chút ít cũng có thể gây ra cơn nóng bừng. Do đó bạn cần giữ cho mát bằng cách ở trong phòng thoáng, mở cửa sổ, vặn quạt hay máy lạnh. Khi cảm thấy cơn nóng bừng sắp nổi lên, bạn có thể uống một hớp nước lạnh.
2. Năng vận động: Trong tuổi hết kinh, bạn còn cần phải tập thể dục mỗi ngày hơn bao giờ hết. Nên tập những cử động làm nóng người và tim đập nhanh hơn, bạn sẽ bớt bị cơn nóng bừng và ngủ dễ hơn. Có thể đi bộ nhanh 30 phút mỗi ngày. Nếu có thể được, rủ nhiều người cùng tập hay gia nhập một nhóm nào đó thì sẽ dễ giúp mình tập hơn.
3. Ăn uống cẩn thận: Không nên ăn những thức ăn cay và nhiều gia vị hoặc thức uống nhiều chất cafeine hay rượu. Nên để ý xem thức ăn nào làm mình dễ bị nóng bừng và tránh thứ đó.
4. Thư giãn tâm thần: Ngồi thiền và những cử động làm thư giãn, giảm stress của môn yoga ... có thể làm giảm cơn nóng bừng. Nhiều nghiên cứu cho thấy thực tập phương pháp thở sâu và đều hòa 2 lần mỗi ngày cũng giúp giảm triệu chứng này. Nếu những phương pháp này không giúp bạn giảm cơn nóng bừng, chúng cũng sẽ giúp bạn ngủ dễ hơn.
5. Không hút thuốc: Nghiên cứu cho thấy hút thuốc làm tăng cơn nóng bừng. Ngưng hút thuốc còn làm giảm nguy cơ bị bệnh tim, stroke và ung thư.

Thuốc chữa cơn nóng bừng:
Nếu những cách trên không giúp bạn hết cơn nóng bừng, bác sĩ có thể cho bạn uống một vài thứ thuốc trị triệu chứng này.
1. Thuốc kích thích tố nữ: rất hiệu nghiệm nhưng có thể có nhiều phản ứng nguy hại
Thuốc Estrogen: là thuốc hiệu nghiệm nhất để chữa cơn nóng bừng. Tuy nhiên, như nhiều người đã biết, kết quả một cuộc nghiên cứu sâu rộng được công bố 2 năm trước đây cho thấy thuốc này có nhiều phản ứng phụ không tốt như làm tăng nguy cơ bệnh tim, ung thư, stroke...Nếu cơn nóng bừng của bạn quá nặng và bạn không có nguy cơ về bệnh tim mạch, ung thư..., bác sĩ có thể cho bạn uống estrogen. Bạn và bác sĩ của bạn cần bàn kỹ về lợi hại của quyết định này.
Thuốc Progesterone: Thay vì estrogen, nhiều bác sĩ có thể cho bệnh nhân uống progesterone, cũng là một thuốc kích thích tố nữ. Một trong những thuốc này là megestrol acetate dùng để chữa ung thư vú, cũng rất hiệu nghiệm để chữa cơn nóng bừng và có thể được dùng cho những người đã chữa hết bệnh ung thư vú.

2. Những thuốc khác:
Nhiều nghiên cứu cho thấy vài thứ thuốc khác, nguyên dùng để chữa bệnh trầm cảm, làm kinh hay cao máu, cũng có thể giúp giảm cơn nóng bừng.

Thuốc chữa trầm cảm: Venlafaxine (Effexor XR) dùng với liều thấp có thể làm giảm cơn nóng bừng. Vài thuốc trị trầm cảm khác như Paxil, Prozac, Celexa... có triển vọng hiệu nghiệm. Do đó, đa số các bác sĩ hiện nay dùng thuốc trị trầm cảm liều thấp để chữa cơn nóng bừng nếu bệnh nhân không thể hoặc không muốn uống estrogen. Tuy nhiên, các thuốc này không hiệu nghiệm bằng estrogen và cũng có những phản ứng phụ như làm buồn nôn, chóng mặt hay rối loạn tình dục...
Gabapentin: thường dùng chữa bệnh làm kinh và đau nhức kinh niên. Thuốc này khá hiệu nghiệm để chữa cơn nóng bừng. Phản ứng phụ gồm có buồn ngủ, chóng mặt, buồn nôn và sưng phù.
Clonidine: thường dùng chữa bệnh cao huyết áp, có thể làm giảm số lần bị cơn nóng bừng. Phản ứng phụ gồm có chóng mặt, buồn ngủ, khô miệng và bón.

Bs Nguyễn Thị Nhuận

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2008

Mập Phì Khi Tắt Kinh ( ăn uống lành mạnh tập thể dục giúp người thon giảm mập )


Sau khi bị tắt kinh, cân lượng lên vù vù, vì sao?

Đó là câu hỏi rất thông thường của phụ nữ tới thời kỳ mãn kinh. Ở tuổi này phụ nữ sẽ xồ xề, mập ra và sẽ phải đối diện nhiều nguy cơ như bệnh cao huyết áp, bệnh cao mỡ. Nguy hiểm hơn là kích thích tố insulin không còn tác dụng mạnh dễ sinh ra bệnh tiểu đường.

Sau khi hết kinh, estrogen sản xuất yếu và lượng cholesterol, nhất là cholesterol xấu (LDL) trong máu tăng cao. Và đó là nguyên nhân dễ sinh bệnh tim mạch (coronary heart disease)

Vài xác xuất mập của phụ nữ khi mãn kinh:
Bình thường phụ nữ khi lớn tuổi, cứ 10 năm tỉ lệ mập sẽ từ từ lên cao. Đặc biệt là tới thời kỳ tắt kinh, cân lượng sẽ tăng lên thật nhiều. Trong 3 năm đầu, phần lớn cân lượng tăng khoảng 5 kg(Trong trường hợp ngoại lệ, khoảng 3 phần trăm bệnh nhân sẽ bị cân lượng giảm đi khi tắt kinh). Sau đó khi tuổi tác lên cao hơn, sức nặng của cơ thể tăng dần, mỗi năm lên khoảng 500 gr.

Mỡ biến chuyển trong cơ thể như thế nào?
Tới thời kỳ hết kinh, mỡ tích tụ mỗi lúc mt nhiều trong cơ thể. Về phương diện y học, tăng mỡ bụng quá cỡ là điều đáng lưu ý. Bụng bự là báo hiệu của vài loại bệnh nguy hiểm như tiểu đường loại 2, cao mỡ trong máu, cao huyết áp, vài thứ ung thư và bệnh tim mạch.

Vì sao bị mập?
Mập khi mãn kinh có vẻ liên hệ tới vấn đề sinh lý và tâm tính thay đổi, tuổi tác, hơn là do kích thích tố trong cơ thể thay đổi. Quan trọng nhất là bởi vấn đề thiếu tập thể dục. Thiếu thể dục trong thời kỳ tắt kinh sẽ làm cân lượng tăng lên, mập phì.

Chương trình khảo cứu gần đây (The Women’s Healthy Lifestyle Project) trong quãng thời gian từ 1992 tới 1998 cho thấy: Phụ nữ ăn uống kiêng cữ, tập thể dục, trong 6 tháng đầu, giảm được 10 cân (lb). Mỡ, cholesterol tổng quát và cholesterol xấu (LDL) đều giảm, huyết áp xuống thấp và đường trong máu cũng sẽ giảm.

Nếu vẫn tiếp tục tập thể dục thì một năm sau, 80 phần trăm phụ nữ sẽ xuống cân lượng giảm dưới mức trung bình (baseline weight). Vòng háng sẽ nhỏ lại. Mỡ tan trong cơ thể.

Sau đây là những lời khuyên cho phụ nữ tới thời kỳ mãn kinh. Mục đích chính là để giúp giảm cân hay giảm mập:
Giảm calories hàng ngày (khoảng 1000 tới 1200 calories cho phụ nữ).
Giảm mỡ trong đồ ăn (khoảng 30 phần trăm tổng số lượng calories).
Tập thể dục nhiều hơn (ít ra là 30 phút mỗi ngày).
Đọc thêm tài liệu giảm mỡ, giảm mập

Nếu ăn uống lành mạnh, đúng tiêu chuẩn và tập thể dục đều đặn không những sẽ giúp phụ nữ giảm mập, người thon thả, giảm vòng háng, mà còn phòng ngừa được nhiều chứng bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, mỡ cao trong máu. Nói chung, sẽ giảm cơ nguy bệnh tim mạch, giúp phụ nữ sống lâu, trường thọ.

(Cập Nhật: Trong một nghiên cứu gần đây cho biết kích thích tố phụ nữ đóng vai trò quan trọng khi phụ nữ hết kinh. Hay nói cách khác mập phát hiện đúng lúc chấm dứt chu kỳ kinh nguyệt và là lúc kích thích tố estrogen và progesterone từ buồng trứng phụ nữ thuyên giảm. Vậy, kích thích tố phụ nữ thuyên giảm là nguyên nhân gây bệnh mập phì. Mức estrone của phụ nữ mập phì sau khi mãn kinh tăng cao 40% hơn phụ nữ không mập phì sau khi hết kinh (Estrone là một trong 3 loại estrogens).

Phụ nữ thường ăn vặt ban đêm thêm lý do khác khiến phụ nữ mập phì.

Kết quả một nghiên cứu khác khuyến cáo phụ nữ mập sau khi mãn kinh tăng cao nguy cơ ung thư vú, so sánh vơí phụ nữ mãn kinh cân lượng bình thường. Mập tăng cao nguy cơ bệnh tiểu đường, tai biến mạch máu não, bệnh tim, bênh khớp xương và một số chứng bệnh ung thư. Ngược lại, tế bào mỡ có khả năng hấp thụ hay tiết kích thích tố nữ estrogens cho nên mập phì sau khi mãn kinh chậm phát hiện triệu chứng bệnh lãng quên Alzheimer).

Bác sĩ Trần mạnh Ngô
( Y Dược Ngày Nay )

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2008

Muốn giảm mập, phải tập thể dục ít nhất 1 tiếng

Những phụ nữ muốn giảm cân và duy trì số cân nặng của mình cần phải tập đủ mỗi lần 1 tiếng, và kéo dài 5 ngày một tuần.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Pittsburgh, Mỹ, đã tìm thấy mỗi lần tập 55 phút là thời gian tối thiểu cần thiết để giảm được 10% cân nặng.

Nhóm đã tìm hiểu một những phụ nữ thừa cân và béo phì trong vòng 4 năm. Những người này được yêu cầu ăn khoảng 1.200 đến 1.500 calo mỗi ngày và tham gia 4 chương trình tập luyện khác nhau về cường độ và khối lượng bài tập.

Sau 6 tháng, phụ nữ ở cả 4 nhóm đều giảm 10% khối lượng cơ thể, nhưng hầu hết không duy trì được số cân nặng này. Những ai giảm 10% khối lượng trong thời gian dài thì tập thể dục nhiều hơn, trung bình 275 phút mỗi tuần.

Thông thường, mọi người được khuyên tập vừa phải 30 phút mỗi lần, 5 ngày/tuần, nhưng các nhà khoa học cho rằng để duy trì số cân giảm được thì cần phải tập luyện nhiều hơn.

Giáo sư Paul Gately, tại Đại học Leeds Metropolitan, nhận định: "30 phút tập luyện tốt cho sức khỏe nói chung, nhưng nếu bạn muốn giảm cân, bạn cần phải tập nhiều hơn và nếu muốn giữ vững số cân nặng đó thì bạn càng phải tập nhiều hơn nữa. Theo đó, từ 1 tiếng đến 90 phút mỗi ngày là phù hợp để giữ vững số cân nặng giảm được".

Theo BBC