Thứ Hai, 11 tháng 8, 2008

Đau Tim, Tức Ngực


Trong suốt cuộc đời, thế nào chúng ta cũng có lúc ôm ngực kêu đau. Có người thì hơi đau một chút đã hoảng hốt la làng là đang bị cơn-đau-tim và vội vàng kêu xe cấp cứu. Ngược lại thì cũng có người mặt xanh như tầu lá, ngực nhói đau thì lại bảo vì ăn không tiêu, uống vài viên chống acit là ổn. Cả hai thái độ coi bộ đều cần được xét lại.

Thành ra, thêm một chút hiểu biết về những cơn đau từ ngực tưởng cũng không phải là dư.

Đau ngực có thể là từ nhiều cơ quan khác nhau, chứ không riêng gì từ trái tim.

1- Đau không từ trái tim

a. Bệnh của túi mật như viêm hoặc sỏi mật đôi khi cũng gây đau tương tự như cơn đau của tim.

b. Chứng ợ chua với chất acit từ bao tử trào ngược lên thực quản, tạo ra cảm giác nóng cháy sau xương ức.

c. Viêm màng bọc hai lá phổi vì sưng phổi gây ra cảm giác đau, nhất là khi ho hoặc hít thở mạnh.

d. Đau khi gẫy nứt xương sườn hoặc viêm lớp sụn nối tiếp xương sườn với xương ức.

e. Đau nhức các cơ liên sườn hoặc khi dây thần kinh bị kẹp.

g. Đau ngực trong các bệnh phổi như phổi tràn khí phế mạc (pneumothorax), hen suyễn, nghẽn động mạch phổi.

h. Trong bệnh zona do virus thủy đậu gây ra, đau nhức từ sau lưng tới lồng ngực kèm theo một dải những mụn nước.

i. Nuốt nhiều không khí khi vội vàng ăn hoặc uống nước có hơi hoặc uống với ống hút. Không khí làm căng bao tử, tạo ra cảm giác đau đau ở phía trái bụng dưới.

Người đang tức giận bực mình cũng nuốt nhiều hơi trong khi ồn ào, hổn hển diễn tả lời nói.

k. Nằm ngủ với cánh tay, bả vai ở vị thế bất bình thường cũng đưa tới đau ngực.

l. Trong cơn hoảng sợ, tim đập nhanh, hơi thở dồn dập, đổ mồ hôi, hụt hơi thở cũng thường có cơn đau trước ngực.

2-Đau từ trái tim

Đau từ trái tim cũng có nhiều loại:

a-Cơn-đau-thắt-ngực, tiếng Anh gọi là angina pectoris. Angina có nghĩa đau như co thắt, xiết chặt trái tim lại (constricting pain). Pectoris là lồng ngực.

Năm 1768, bác sĩ người Anh William Heberden là người đầu tiên tả cảm giác này một cách ngắn gọn, linh động như sau: “Người bị cơn đau thắt ngực hành hạ khi đang đi lên một con đường dốc hoặc sau khi ăn no. Đau rất khó chịu tưởng như có thể chết đi được nếu cơn đau cứ tiếp tục. Nhưng may mắn là khi người đó nghỉ thì cơn đau hết tức thì”.

Đau của angina cho cảm giác như co thắt toàn thể hoặc phần ngực nằm sau xương ức, lan lên cổ, hàm, má, bả vai, cánh tay và xuống cả vùng giữa bụng hoặc giữa hai xương bả vai.

Đau thắt ngực thường xảy ra khi ta leo lên một ngọn đồi hoặc bước những bậc cầu thang lên lầu, khi đi trong gió lạnh, mang vật nặng, cào lá, làm vườn, xúc tuyết, vươn mình chạy đỡ đường banh quần vợt, đang coi một truyện phim nhiều kích động, đôi khi cả trong lúc hấp dẫn giao hợp hoặc những cơn thịnh nộ, lo âu. Cũng có trường hợp đang ngủ, cơn đau xuất hiện đánh thức nạn nhân bừng dậy ôm ngực nhăn nhó.

Mỗi cơn đau như vậy kéo dài không quá 10 hoặc 20 phút và hầu như chầm dứt khi ta ngưng hoạt động đã gây ra cơn đau. Hoặc đặt dưới lưỡi một viên nitroglycerin. Và khi được hỏi đau ở đâu thì hầu như mọi người đều chỉ vào ngực với cả bàn tay chứ không với một ngón tay.

Tại sao có cơn đau thắt ngực như vậy?

Thưa đau là tiếng kêu cứu, phản kháng của trái tim bị bỏ đói, thiếu dưỡng khí mà còn bị lạm dụng bóc lột sức lao động quá mức.

Với kích thước bằng nắm tay, trái tim co bóp liên tục ngày đêm 70 lần trong một phút để bơm ra, hút vào một lượng máu khổng lồ là 6 tấn máu vào cả ngàn cây số mạch máu mỗi ngày.


Để hoàn tất nhiệm vụ của một cái bơm, các cơ của tim cần được nuôi dưỡng với oxy. Động mạch vành lãnh trách nhiệm nuôi dưỡng này.

Động mạch vành có hai nhánh chính trước và sau tim và các nhánh phụ bao phủ toàn bộ trái tim như một cái vương miện. Bình thường, tim và động mạch có khả năng thích nghi, làm việc nhiều hơn một chút để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng khi cơ thể hoạt động mạnh mẽ hơn.

Động mạch vành có đường kính khoảng từ 2-3 mm, vừa đủ rộng để chứa một chiếc que diêm.

Nhưng khi động mạch vành bị thu hẹp, sự nuôi dưỡng cơ tim giảm đi. Cơ tim gào thét bằng những cơn đau, để báo động cho con người là họ đang trong tình trạng hiểm nghèo.

Thu hẹp thông thường của động mạch là do những mảng chất béo cholesterol bám vào thành động mạch vành. Cholesterol cần cho cơ thể, nhưng chỉ ở mức độ vừa phải. Nếu cao quá thì chúng phải kiếm chỗ để dung thân. Mà gần nhất là ở ngay các động mạch mà chúng đang lưu hành. Đó là sự Vữa Xơ Động Mạch (Atherosclerosis).

Khởi thủy là lớp màng lót của một chỗ nào đó trong động mạch trở nên mềm rồi một thời gian sau cứng lại. Cholesterol bắt đầu bám vào đó, mỗi ngày mỗi cao hơn. Khoáng chất calci trong máu cũng nhân cơ hội táp vô, làm mảng cứng, khó tan.

Diễn tiến của sự vữa xơ rất chậm, có khi cả năm và không có triệu chứng báo hiệu. Con người vẫn “vô tư” ăn uống, với nhiều chất béo cholesterol rất ngon miệng trong món ăn. Lòng động mạch thu hep dần dần và khi đường kính động mạch giảm tới 75% thì chuyện chẳng lành xảy ra. Đó là cơn đau-thắt-ngực, angina.

Mỗi cơn đau tại một vùng cơ thể là một lời cảnh cáo, một báo hiệu có hiểm nguy, khó khăn đâu đó. Để con người biết mà đề phòng, đối phó, chữa trị.

Trái tim thiếu nuôi dưỡng, làm việc quá sức và kêu đau. Nếu ngưng nguyên nhân gây đau, tim dịu xuống, hết nhăn nhó.

Cũng có một số trường hợp, vữa xơ không đưa tới cơn đau thắt ngực. Đó là ở những người mà động mạch vành thu hẹp đã tạo ra được vài mạch máu bên lề (collateral), vòng qua đường hẹp tắc, dẫn máu nuôi tim.

Hiện tượng vữa xơ cũng thấy ở các động mạch nuôi thận, nuôi não, nuôi ruột, nuôi tứ chi.

Ở não, vữa xơ gây ra tai biến não (stroke). Ở thận đưa tới suy thận, phải lọc máu, thay thận. Ở chân đưa tới khập khiễng cách hồi (clauditation intermittant) với đau bắp vế khi đi, khi chạy, hết đau khi ngồi khi nghỉ…

Những rủi ro đưa tới vữa xơ là cao huyết áp, béo phì, cao cholesterol trong máu, phì phèo thuốc lá luôn miệng, tiểu đường, không vận động cơ thể, căng thẳng tâm thần…

Để xác định cơn-đau-thắt-ngực, bác sĩ cần tìm hiểu y sử người bệnh, hoàn cảnh nào angina xảy ra, cơn đau như thế nào, thường thường nạn nhân làm gì để giảm cơn đau.

Rồi khám tổng quát, nghe nhịp tim, đo điện tâm đồ khi bệnh nhân nghỉ và sau khi bệnh nhân bước lên chục bực thang hoặc đi trên máy đi bộ (treadmill).

Angina thường thường giảm hết sau khi ngưng động tác gây ra nó hoặc sau khi dùng nitroglycerin.

Nitroglycerin là dược phẩm có tác dụng trị liệu rất lớn và thường được dùng để loại bỏ cấp kỳ cũng như giảm tần số và phòng tránh các cơn angina.

Thuốc làm giãn mở động mạch vành, khiến cho máu lưu thông tới tim nhiều hơn để giải tỏa cơn đau kêu gào thiếu dưỡng khí của cơ tim. Thuốc cũng làm giãn mở mạch máu toàn thân, nhờ đó tim cũng bớt phải co bóp mạnh hơn để bơm máu ra.

Thuốc được đặt dưới lưỡi để tự tan ngấm váo máu và tác động tức thì. Nhớ đừng nhai đừng nuốt nitroglycerin.

Cũng có loại nitroglycerin dạng mỡ thoa trên ngực với tác dụng kéo dài vài giờ.

Dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu viên đầu không thấy công hiệu, có thể dùng thêm một viên nữa. Và nếu cơn đau không giảm sau khi dùng thuốc 15 phút, nên cho bác sĩ hay ngay.

Cơn đau liên tục xẩy ra cần được điều trị tại nhà thương, vì rất có thể là ta bị cái đau của cơn-đau-tim, Heart attack.

Để được an toàn, nên nghĩ tới heart attack khi angina không thuyên giảm với nghỉ hoặc với hai ba viên nitroglycerin.

Cũng nghĩ tới heart attack nếu chưa bao giờ bị angina mà bây giờ chợt bị đau nơi ngực, không bớt khi ngưng công việc đang làm.

b- Cơn-đau-tim

Trên đây là đau-nghỉ-hết đau.

Bây giờ là đau, nghỉ cũng chẳng hết mà lại có nhiều nguy cơ nghỉ luôn trong lòng đất. Đó là cơn-đau-tim, heart attack.

Heart attack cũng báo hiệu bằng cơn đau trước ngực, đau như trái tim bị kẹp giữa hai ngàm của chiếc máy ép nước mía, kéo dài nhiều giờ và không thuyên giảm cho tới khi được cấp cứu (với morphine). Đau cũng xuất hiện ở vùng trên bụng, lan lên cổ, ra hai vai, tới cánh tay và có khi vòng ra sau lưng.

Bệnh nhân ở trong tình trạng lo sợ, toát mồ hôi lạnh, mặt xanh như tàu lá, ợ hơi (belching), ọe khan hoặc ói mửa. Thêm vào đó là cảm giác hụt hơi thở, hổn hển ngáp ngáp không khí, tim đập nhanh.

Ở nữ giới và lão niên, các dấu hiệu nhiều khi không rõ rệt, chỉ cảm thấy mệt mỏi, yếu sức khiến cho họ không nhận ra là đang trong cơn hiểm nghèo.

Nguyên do đưa tới heart attack cũng bắt nguồn từ những mảng cholesterol trong động mạch. Tới một lúc nào đó, một mảnh của mảng này tách ra, tạo thành ra một máu cục, di chuyển tới động mạch tim và hoàn toàn gây tắc nghẽn sự lưu thông máu tới nuôi tế bào tim. Tế bào chết vì thiếu oxy, mà y học gọi là nhồi-máu-cơ-tim (myocardial infarction).

Ngoài ra, heart attack cũng gây do một số nguy cơ khác như gia đình có người bị nan bệnh này, do hút nhiều thuốc lá, do cao huyết áp, tiểu đường, lạm dụng thuốc cấm cocaine…Đáng tiếc là trong nhiều trường hợp, các rủi ro này kết cấu với nhau để gây ra thiệt hại cho trái tim và đưa tới heart attack.

Xác định heart attack bằng khám tổng quát, đo điện tâm đồ, chụp x-quang tim và thử máu tìm mức độ men tế bào tim. Khi tế bào tim bị hủy hoại, chúng nhả ra những enzyme và tế bào càng chết nhiều thì enzyme trong máu càng cao.

Cơn-đau-tim là một cấp cứu y khoa vì tử vong có thể xảy ra trong vài chục phút. Nhiều người thiệt mạng trước khi tới bệnh viện vì họ coi thường các dấu hiệu báo động.

Bệnh nhân thiệt mạng phần lớn là do rối loạn nhịp tim. Nhịp tim nhanh loạn xạ (tachycardia), rung tim thất (ventricular fibrillation) đưa tới tim rung rinh (quivering), co giật (twitching) thay vì co bóp (beating) và cuối cùng là ngưng tim, nhiệm vụ bơm máu chấm dứt.

Do đó, các cơn đau ngực đều nên coi là khẩn cấp. Nếu bất cứ dấu hiệu nào mà ta nghĩ là có thể xuất phát từ trái tim, thì kêu cấp cứu ngay.

c-Viêm màng bọc trái tim

Màng bọc trái tim hoặc ngoại-tâm-mạc (pericardium) là một cái màng bao quanh tim để che chở cho cơ quan nhỏ bé nhưng quý giá này. Màng có thể bị viêm vì nhiễm virus, chứng ure huyết, ung thư và có các triệu chứng như đau ngực, nóng sốt…

d- Rách động mạch chủ

Động mạch chủ (aorta) là động mạch chính của cơ thể, xuất phát từ tâm thất trái, uốn cong phía trên tim rồi chạy xuống ngực và bụng, phía trước xương sống.

Khi bị một cú đập mạnh vào ngực, hoặc khi huyết áp lên quá cao, lớp màng lót của động mạch chủ có thề bị rách (aorta dissection), tạo ra một cơn đau ngực không lường trước, rất dữ dội, có thể chết ngưới. May mắn là chuyện này rất hiếm khi xảy ra.

e- Co thắt cơ của động mạch vành

Đôi khi cơ của động mạch vành co thắt và cũng đưa tới đau ngực từng cơn. Nguyên do có thể là tự nhiên co hoặc bị các chất như nicotine, caffeine kích thích. Co thắt xảy ra khi nghỉ cũng như đang hoạt động.

Kết luận

Đó là những cơn đau ngực với các nguyên nhân. Biết chúng để đối phó với chúng là điều cần, vì cẩn tắc vô ưu, cứu bệnh như cứu hỏa.

Bác sĩ chuyên bệnh Tim Mạch Harvey Simon, Đại học Y khoa Harvard, thường nói với các sinh viên của ông rằng: “Dấu hiệu thông thường nhất của cơn-đau-tim là cơn đau thắt ngực và dấu hiệu thứ nhì là sự phủ nhận denial, vùi đầu trong cát. -Ôi chỉ một chút căng thẳng, khó tiêu, hết ngay ấy mà!”

Và ông đề nghị: với mọi nhói tim, nặng ngực, khó thở, cần tham khảo ý kiến bác sĩ ngay. Kẻo rồi lại quá trễ.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2008

Làm trắng răng từ dâu tây ( strawberry )



Làm trắng răng bằng các phương pháp hoá học đôi khi gây nên những tác dụng phụ và ảnh hưởng lâu dài cho răng. Hãy cùng khám phá một phương pháp làm trắng răng đơn giản, an toàn và hiệu quả từ quả dâu tây nhé!



Thành phần của quả dâu tây có chứa rất nhiều axit malic giúp loại bỏ và ngăn ngừa việc hình thành các mảng bám trên bề mặt răng, làm răng luôn trắng sáng. Vì vậy, nên ăn 1 vài quả dâu tây ngay sau khi uống cà phê, rượu hay hút thuốc để răng không bị ố vàng



Phương pháp làm trắng răng từ quả dâu tây vừa đơn giản, vừa an toàn, tiết kiệm lại không gây ra các tác dụng phụ cho răng. Bạn có thể làm trắng răng mình từ quả dâu tây theo hướng dẫn sau:



- Lấy 1 quả dâu tây chín, nghiền thật nhỏ. Cho thêm 1 thìa cà phê nước trà loãng hoặc 1 thìa cà phê nước muối, sau đó trộn đều.



- Dùng bàn chải đánh răng bôi đều hỗn hợp lên bề mặt răng. Giữ trong khoảng 5 phút. Sau đó chải răng thật sạch với kem đánh răng.



- Cuối cùng, hãy làm sạch các kẽ răng bằng chỉ nha khoa.



Hãy ngắm mình trong gương! Bạn có thể tự tin với hàm răn trắng bóng và nụ cuời thật rạng rỡ.



Lưu ý: Chỉ nên sử dụng phương pháp này 2-3 lần/ tuần. Dùng quá thường xuyên sẽ không tốt cho răng.

Theo Dân Trí



Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2008

Sự thật quanh chuyện giảm cân

Tập thể dục có tác dụng rất tích cực trong chiến dịch giảm cân

Bạn hoa mắt trước 1001 các phương pháp giảm cân và đôi khi hoang mang khi có thông tin rằng thực hiện chế độ giảm cân không hề tốt cho sức khỏe có khi còn khiến bạn tăng cân hơn. Vậy đâu thực sự là lời khuyên cho bạn? Hãy tham khảo những hỏi đáp dưới đây biết đâu bạn sẽ tìm thấy đáp án cho mình:

1. Tôi có nên massage xông hơi để giảm béo?

Massage và xông hơi mang ý nghĩa chính là giúp bạn thư giãn và giải tỏa độc tố. Nước dư thừa sẽ được loại bỏ sau khi xông hơn nên sau khi xông bạn thấy người nhẹ nhõm, cân nặng giảm xuống từ 0,5kg đến 1kg. Số kg thừa này sẽ rất nhanh chóng quay trở lại sau khi bạn bù đủ nước vì vậy để thực sự làm gầy từ 3kg trở lên thì không thể sử dụng phương pháp này.

2. Tôi có nên đi phẫu thuật hút mỡ để giảm béo?

Hút mỡ là giải pháp nhanh nhất để giảm mỡ nhưng bạn sẽ phải chịu đau đớn khi hút mỡ, sau khi hút mỡ da thường bị lão hóa sớm và nhăn nheo. Dù có thể giảm ngay lập tức nhưng mỡ sẽ lại nhanh chóng lấp đầy các khoảng trống trước đây và bạn sẽ lại y như cũ hoặc phì nhiêu hơn nếu không có biện pháp "bảo tồn" dài lâu như kiêng cữ thật tốt và tích cực vận động.

Mặt khác, phương pháp này tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thậm chí có thể gây tử vong. Phương pháp phẫu thuật mới được phát triển gần đây là phương pháp thắt đai dạ dày. Tuy nhiên phương pháp này chỉ dùng cho những bệnh nhân bị béo phì nặng, không dùng cho người bị béo thông thường.

3. Ăn kiêng có phải là biện pháp tốt nhất?

Ăn kiêng là phương pháp giảm cân dựa trên nguyên tắc giảm lượng nạp vào thấp hơn năng lượng thải ra để buộc cơ thể sử dụng năng lượng thừa. Phương pháp cổ điển này phát huy hiệu quả khá tốt. Nhiều người đã lạm dụng ăn kiêng để cơ thể rơi vào trạng thái suy nhược nặng, gây ngất xỉu, dẫn đến bệnh chán ăn kinh niên, ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm lý. Muốn có chế độ ăn uống hợp lý nhất, hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ dinh dưỡng.

4. Có gì sau nếu tôi theo chế độ giảm cân càng nhanh càng tốt?

Không có loại thuốc thần kỳ nào làm giảm cân nhanh chóng được. Những chương trình ăn kiêng quảng cáo hùng hồn hứa hẹn giảm nhiều kg một tuần. Đó là những thực đơn ăn kiêng rất nghèo năng lượng chỉ toàn là chất lỏng có thể sẽ dẫn tới sự sụt cân tạm thời trong một thời hạn ngắn, nhưng về lâu về dài chúng hoàn toàn thất bại và còn nguy hiểm cho sức khỏe của bạn nữa.

Giảm cân càng nhanh càng dễ gây hại cho cơ thể vì cơ thể không được chuẩn bị để thích nghi với trạng thái thiếu năng lượng nên sẽ dễ gây tụt huyết áp, hại sức khỏe... Đối với thể tạng của người Châu Á, tốc độ giảm cân an toàn được quy định từ 1-3kg/1 tháng. Các biện pháp giảm cân có thể sử dụng trong vòng 3 tháng, sau đó nên nghỉ 3 tháng mới tiếp tục giảm cân (nếu cơ thể vẫn thừa cân).

5. Tập thể dục có vai trò ra sao trong chiến dịch giảm cân?

Vì các mô mỡ trong cơ thể hoạt động rất kém nên chúng không tiêu thụ được calo. Chỉ có các tế bào cơ mới làm được điều này, càng nhiều mô cơ, cơ thể bạn hấp thụ calo, giảm mỡ và tránh được mỡ tốt hơn. Mô mỡ càng nhiều, bạn có thể ăn nhiều mà không lên cân.

Những bài tập aerobic, chạy bộ, đi bộ, bơi lội, đạp xe hoặc bất kỳ bài tập nào có sử dụng cơ bắp đều hiệu quả. Phương pháp giảm cân dựa trên nguyên tắc tăng tiêu thụ năng lượng để kích thích chuyển hóa lượng mỡ dư thừa thành năng lượng cho cơ vận động. Tuy nhiên thể dục sẽ kích thích ăn uống tốt hơn nên có nguy cơ lượng thức ăn đưa vào cơ thể sau khi tập thể dục sẽ lại cao hơn và gây tích lũy mỡ. Vì vậy cần phải kết hợp phương pháp này với một chế độ ăn hợp lý.

6. "Thuốc giảm béo" hiệu quả đến đâu?

Trên thế giới và ở nước ta, nhu cầu về thuốc giảm béo (TGB) đang có xu hướng ngày càng tăng. Các loại TGB thường có yếu tố làm giảm cảm giác ngon miệng do đó ăn giảm đi nhờ chất Sibutramin, tuy nhiên nó cũng có tác dụng không mong muốn là tăng huyết áp, nhức đầu, mạch nhanh...

Chất Orlistat ngăn cản men thủy phân chất béo ở ruột, tác dụng phụ là phân có nhiều mỡ, bởi lẽ dầu mỡ không được hấp thu sẽ được thải ra theo phân nhờn hoặc lỏng. Chất Carnitine làm tăng phân giải chất béo của cơ thể, tạo thêm năng lượng cho các tế bào, do đó giảm tích tụ mỡ có tác dụng giảm béo phì...

Loại TGB từ thảo dược có tác dụng làm tăng tiêu hao năng lượng của cơ thể; hay là tăng chuyển hóa chất béo; tăng khả năng khử các gốc tự do, chống béo phì. Một hướng khác không tốn công chiết xuất, mà dùng ngay cây cỏ thiên nhiên, bào chế pha uống như kiểu pha trà gọi là "trà giảm béo". Dùng TGB có nguồn gốc thảo mộc phần lớn là không độc hại, nhưng hiệu quả giảm béo thường không rõ ràng, nên khả năng tiêu thụ thuốc còn hạn chế.

Các TGB đều mang tính tạm thời, sau khi ngừng thuốc sẽ béo trở lại. Đó là chưa nói tới các TGB có những tác dụng phụ nguy hại. Bởi vậy TGB chỉ nên coi là thứ hỗ trợ thêm, còn phương pháp giảm béo chủ yếu là điều chỉnh lại chế độ ăn hợp lý và năng vận động chân tay, tập thể dục thể thao có tác dụng tích cực giảm béo, mà cơ thể khỏe mạnh.

7. Có cách để giảm béo cho những người thiếu kiên trì không?

Xin trả lời ngay: "bó tay"

Tuy nhiên để tạo "cảm hứng" cho những người thiếu tính kiên nhẫn là khi vào bữa ăn bạn không nên ăn cơm ngay. Nên ăn rau trước sau đó dùng một chén cơm nhỏ bạn sẽ không còn cảm giác đói bụng nữa. Mỗi ngày bạn nên tự vận động khoảng 10" sẽ giúp cơ thể săn chắc hơn nhưng điều quan trọng nhất là bạn phải kiên trì. Bạn nghĩ nếu bạn kiên trì một chút chỉ vài tháng thôi bạn sẽ trở thành "gọn ghẽ" hơn, rất tuyệt phải không nào?

8. Cellulite là gì?

Cellulite là thuật ngữ dùng để chỉ những vùng da không mịn màng như có một mạng những đường màu trắng nhạt hơn gồ lên dưới da, những nếp gấp, nhão, mềm, không bằng phẳng không sần sùi như vỏ cam sành lồi lên xung quanh vùng hông, mông. Cellulite do một loại hormone gây ra, hormone này làm dày và cứng các sợi collagen bao xung quanh những tế bào mỡ. Không dễ để loại bỏ hoàn toàn cellulite. Dưới đây là một số giải pháp giúp bạn phần nào:

Dùng kem: Các sản phẩm mới nhất chứa các thành phần làm căng da, tăng collagen có thể cải thiện tình trạng này.

Máy laser chuyên dụng tạo ra nhiệt năng để phân hủy tế bào mỡ và đào thải ra ngoài cơ thể qua hệ bài tiết.

Chế độ ăn chống cellulite: Uống nước khoáng, hạn chế thức uống có cồn, không ăn mặn và đồ ăn có nhiều muối, luôn uống nhiều nước, cắt giảm các loại thức ăn, thức uống có chứa caffeine và thay thế bằng trà xanh. Thận trọng với các loại thức uống có ẩn chứa thành phần caffeine trong đó như các loại thức uống có gas, nước ngọt, chocolate. Ăn nhiều hơn các loại thức ăn cung cấp nhiều chất xơ, các loại bánh mì ngũ cố nguyên hạt, trái cây và rau cải xanh lá. Tránh những thức ăn quá nhiều năng lượng. Tránh ăn nhiều các loại thức ăn nhanh, dầu mỡ nhiều hay những loại thức ăn chứa nhiều chất béo.

Theo NetLife

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2008

Vì sao phải cạo vôi răng ?


Nếu muốn có một hàm răng khỏe và một nụ cười đẹp, cùng với việc vệ sinh răng miệng hằng ngày, bạn nên đi lấy vôi răng thường xuyên. Vi khuẩn, virus và nấm, có đặc điểm liên kết thành “màng sinh học” tồn tại và phát triển mạnh trong môi trường mảng bám răng. Chúng rất dễ tấn công vùng xung quanh răng bao gồm các mô quanh răng, giữ cho răng ở đúng vị trí. Vi khuẩn và các mầm mống khác có thể gây viêm lợi, biểu hiện với triệu chứng như đỏ lợi, chảy máu (tự phát hay do đánh răng), sưng lợi, thậm chí là cảm giác nhói nhói hay đau lợi.

Lâu dần, viêm lợi có thể phá hủy nhiều hay một phần vùng quanh răng và tấn công vào răng làm tổn hại xương. Cuối cùng, do lợi không còn bám chặt vào răng nữa sẽ xuất hiện những hố lõm trên vùng quanh lợi tạo thành một nơi tập trung lý tưởng cho vi trùng, dẫn đến các bệnh viêm quanh răng. Vì vậy, bên cạnh việc đánh răng thường xuyên, nhiều lần trong ngày, sau mỗi bữa ăn, tốt nhất là 3 phút, tối thiểu là 2 phút mỗi lần, làm sạch các kẽ răng, chúng ta cần phải lấy cao răng và láng mặt gốc răng để loại trừ hầu như toàn bộ vi khuẩn và những mầm mống khác.

Tần suất lấy vôi răng tùy thuộc vào chất lượng vệ sinh răng miệng hàng ngày và những yếu tố nguy cơ khác gây ra.

(Theo Santé)

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2008

Sinh Tố D và Ánh Sáng Mặt Trời


Sinh tố D là một chất bột mầu trắng, không mùi, hòa tan trong mỡ, không hòa tan trong nước, không bị phân hủy ở nhiệt độ cao và không bị oxy hóa. Do đó sinh tố này không bị mất đi trong quá trình chế biến hoặc bảo quản thức ăn.

Sinh tố D có dưới nhiều dạng và mỗi dạng có tác dụng riêng. Calciferol là hình thức có tác dụng mạnh nhất.

Gan và thận giúp chuyển hóa sinh tố D tiêu thụ trong thực phẩm hoặc do tác dụng của tia nắng sang dạng hormone 1.25 dihydrooxyvitamin D. Hormon này gửi tín hiệu cho ruột non để tăng hấp thụ calci và phosphor.

Công dụng
Sinh tố D rất cần cho sự tăng trưởng của xương và răng.
Sinh tố duy trì chất calci và phospho trong máu ở mức bình thường bằng cách điều hòa sự hấp thụ hai khoáng chất này từ thực phẩm.

Nếu không có sinh tố D, calci trong thực phẩm không được ruột non hấp thụ, cơ thể sẽ lấy calci dự trữ trong xương ra để cung ứng cho nhu cầu khác của các cơ quan, bộ phận.
Một số chuyên gia y tế cho rằng sinh tố D có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột già, vú và các bệnh phong nhức khớp, nhưng vấn đề này vẫn còn đang trong phạm vi nghiên cứu.
Một số nghiên cứu khác cho là sinh tố D có khả năng duy trì tốt hệ miễn dịch, giúp tế bào tăng trưởng và phân sinh thành các loại đặc biệt

Nguồn cung cấp
Thực phẩm cung cấp rất ít sinh tố D, nhưng may mắn là thiên nhiên giúp chúng ta tạo ra loại sinh tố này qua tác dụng của ánh nắng mặt trời chiếu trên da.
Tia cực tím của nắng biến hóa chất ergosterol dưới da thành một loại sinh tố D rồi gan và thận tiếp tay biến thành sinh tố D hữu hiệu cho cơ thể. Chỉ cần phơi nắng 10-15 phút, hai hoặc ba lần mỗi tuần là có đủ lượng sinh tố D cần thiết. Vì lẽ đó, sinh tố này còn được gọi là “Sinh tố Ánh Nắng” Sunshine Vitamin).

Điều cần lưu ý là:
-Nên tắm nắng vào buổi sáng khi tia nắng còn dịu hoặc xế chiều khi nắng không gay gắt;
-Không nên bôi quá nhiều kém chống nắng vì kem ngăn tia cực tím hấp thụ qua da.
-Nên phơi mình trần càng nhiều càng tốt.
-Cẩn thận để da khỏi bị cháy nắng và có thể gây ung thư da.

Lượng sinh tố D do nắng tạo ra thay đổi tùy theo thời gian và mức độ tiếp cận với ánh sáng.
Da có mầu đậm cản ánh sáng tới 95%, quần áo và cửa kính, không khí ô nhiễm cũng cản tia tử ngoại vào da; mùa đông ít ánh nắng hơn mủa hè.
Các loại cá béo như cá trích (bloater, herring), cá thu (mackerel), cá hồi (salmon), cá ngừ (Tuna), cá sardine là nguồn cung cấp chính của sinh tố D. Cá ăn các sinh vật phù du (plankton) phơi mình trên mặt biển nắng chói.
Gan, lòng đỏ trứng, bơ có một ít sinh tố D.
Rau trái hầu như không có hoặc chỉ có vài dấu vết sinh tố D
Sữa người và sữa bò có rất ít sinh tố D. Vì thế, các thứ sữa và thực phẩm dùng cho trẻ sơ sinh đều được bổ sung sinh tố D, chẳng hạn như một lít sữa thường được bổ sung 10mcg sinh tố D (tương đương với 400 IU).
Ngoài ra, ngũ cốc khô ăn sáng, bánh mỳ, margarine, nước trái cây cũng thường được cho thêm sinh tố D.
Sinh tố D được ruột non hấp thụ với sự trợ giúp của mật.
Phần lớn sinh tố D được dự trữ ở tế bào mỡ, xương và thịt, một số nhỏ ở gan, óc, phổi và thận.
Phần không dùng tới hầu hết được bài tiết theo phân, chỉ có dưới 4% theo nước tiểu ra ngoài.
Nhu cầu
Viện Y học Hoa Kỳ đề nghị mỗi ngày nên tiêu thụ khoảng 5mcg (tương đương với 200 IU) và không nhiều quá 10mcg (tương đương với 400IU)
Tuy nhiên, một số nhà dinh dưỡng khác, như bác sĩ người Canada Reinhold Vieth, lại cho rằng cơ thể cần số lượng sinh tố D cao hơn, khoảng 4000IU/ ngày.

Thiếu sinh tố D
Thiếu sinh tố D có thể đưa đến bệnh còi xương ở trẻ em (ricket), mềm xương (osteomalacia) ở người cao tuổi và xơ cứng mạch máu.
Trong bệnh còi xương, xương mềm và biến dạng, xương ngực nhô về phía trước (pigeon breast), xương sọ chậm khép kín, xương sống cong, răng sữa chậm mọc, răng khôn mỏng manh, men răng mau hư. Tất cả đều là do thiếu calci và phosphor trong xương.
Thiếu sinh tố D xảy ra khi:
*Tiêu thụ ít hơn số lượng được khuyến khích
*Ít tiếp xúc với tia nắng
*Thận không chuyển hóa sinh tố D sang dạng hormone
*Cơ thể không hấp thụ được sinh tố D ở ruột
Người dị ứng với sữa hoặc ăn rau thuần túy đề dễ bị thiếu sinh tố D. Trẻ em chỉ nuôi với sữa mẹ cũng thiếu sinh tố D, nếu các em không được dùng thêm calci phụ.

Những trường hợp sau đây cần dùng thêm sinh tố D:
-Em bé nuôi với sữa mẹ.
-Người trên 50 tuổi. Lý do là da của họ không tổng hợp hữu hiệu được sinh tố D và thận cũng kém chuyển hóa sinh tố D thành dạng kích thích tố.
Theo thống kê, có từ 30-40% người cao tuổi bị gãy xương hông vì thiếu sinh tố D. Do đó lớp người này có thể được bảo vệ hơn, nếu dùng thêm sinh tố D.
-Những người ít tiếp xúc với mặt trời như cư dân miền bắc cực, dân chúng mặc quần áo chùm kín cơ thể, người làm việc trong không gian không có mặt trời.
-Người da mầu, có nhiều chất màu melanin bao phủ khiến tia tử ngoại không xâm nhập được vào da.
Người có rối loạn hấp thụ chất béo như trong bệnh viêm ruột (bệnh Crohn), bệnh xơ nang tụy tạng (cystic fibrosis), bệnh gan, tụy tạng, giải phẫu cắt bỏ một phần bao tử hoặc ruột.

Thừa sinh tố D
Dùng sinh tố D với liều lượng lớn như trên 50mcg trong một ngày (tương đương 2000 U.I) có thể gây ra nôn mửa, táo bón, ăn không ngon, mết mỏi, xuống cân, tăng lượng calci trong máu, rối loạn tâm trí.
Quá cao calci trong máu có thể đưa tới rối loạn nhịp tim, kết tụ calci vào các tế bào tim, mạch máu, thận, phổi.
Các giới chức dinh dưỡng định mức độ tối đa sinh tố D mà cơ thể chịu đựng được là 25µ (1000IU) cho trẻ em tới 12 tháng; 50µ (2000IU) cho trẻ em, phụ nữ có thai và mẹ cho con bú sữa của mính.
Một số nghiên cứu cho hay, phụ nữ có thai và trẻ em sơ sinh dùng nhiều sinh tố D quá thì van tim thu hẹp, em bé bị chậm phát triển trí não và khuyết tật.
Thường thường chỉ khi dùng sinh tố D phụ thêm thì mới có nguy cơ này. Vì thế, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức ( Y Dược Ngày Nay )

Chữa Cơn Nóng Bừng Của Tuổi Hết Kinh


Trời buổi tối đang mát dịu lại sau một ngày oi bức. Tuy nhiên, tôi bỗng cảm thấy người nóng bừng lên như đang ở gần lò lửa, mồ hôi tôi chẩy ra, mặt tôi đỏ lên. Tôi quay lại hỏi nhà tôi:
- Anh có thấy là nhà hôm nay nóng không?
Ổng trả lời ngon lành:
- Không. Đâu có gì nóng đâu.
Thật ra hỏi để cho chắc thôi, chứ thực ra tôi biết mình đang bị lên cơn nóng bừng (hot flashes), một triệu chứng khó chịu thông thường xẩy ra cho những bà ở thời kỳ hết kinh.

Trong vài năm qua, những triệu chứng của thời kỳ hết kinh (menopause) của các bà được biết đến nhiều hơn bao giờ hết do kết quả những cuộc nghiên cứu về các tai hại của thuốc kích thích tố estrogen và progesterone mà bác sĩ thường cho các bà uống để thay thế những chất do chính buồng trứng của các bà nay đã hết làm việc nên không tiết ra nữa. Trong những triệu chứng của thời kỳ hết kinh, cơn nóng bừng là một triệu chứng khó chịu nhất vì khác với những nguy cơ khác, nó xẩy ra ngay và rất "thật", ảnh hưởng ngay đến cuộc sống của các bà.
Do kết quả các cuộc nghiên cứu cho thấy chất estrogen và progesterone, những chất chữa cơn nóng bừng rất hiệu nghiệm, có thể có nhiều nguy hại, hiện nay nhiều người đã “sợ” và ngưng uống thuốc. Do đo, có nhu cầu tìm những cách chữa khác.

Cơn nóng bừng là gì?
Theo ước lượng, có đến 3 trong số 4 bà tuổi hết kinh bị triệu chứng cơn nóng bừng, nhiều người bị lâu đến 5 năm hay hơn sau khi tắt kinh. Một số người chỉ bị nhẹ và không thường xuyên, số khác lại bị rất nặng và nhiều lần mỗi ngày.
Cơn nóng bừng làm nạn nhân:
1. Cảm thấy một sức nóng có thể ít hay nhiều lan dần khắp người lên đến mặt.
2. Mặt đỏ bừng.
3. Da mặt, lưng và tay có từng đốm đỏ
4. Tim đập nhanh, mồ hôi vã ra
5. Khi cơn nóng bừng dịu xuống, cảm thấy lạnh.
Cơn nóng bừng có thể kéo dài từ 30 giây tới 30 phút, nhưng phần lớn sẽ hết sau 5 phút. Chúng cũng xuất hiện rất bất thường, có thể mỗi giờ hoặc chỉ thỉnh thoảng. Ban đêm, cơn nóng bừng có thể làm các bà tỉnh giấc nồng. Các bà có thể bị cơn nóng bừng khoảng 1 năm hay hơn. Có bà không bao giờ bị cơn nóng bừng cả.

Cái gì đã gây ra triệu chứng cơn nóng bừng? Hiện nay chưa có câu trả lời thỏa đáng. Ta chỉ có thể đoán rằng cơn nóng bừng là do những thay đổi của những chất hóa học trong óc do giảm lượng chất estrogen trong máu xẩy ra vào thời kỳ hết kinh.

Cách chữa cơn nóng bừng
Thay đổi lối sống: bước đầu tiên
Thay đổi lối ăn uống và lối sống có thể làm giảm bớt triệu chứng cơn nóng bừng.
1. Giữ cho mát: Sự tăng nhiệt độ của cơ thể, dù chỉ chút ít cũng có thể gây ra cơn nóng bừng. Do đó bạn cần giữ cho mát bằng cách ở trong phòng thoáng, mở cửa sổ, vặn quạt hay máy lạnh. Khi cảm thấy cơn nóng bừng sắp nổi lên, bạn có thể uống một hớp nước lạnh.
2. Năng vận động: Trong tuổi hết kinh, bạn còn cần phải tập thể dục mỗi ngày hơn bao giờ hết. Nên tập những cử động làm nóng người và tim đập nhanh hơn, bạn sẽ bớt bị cơn nóng bừng và ngủ dễ hơn. Có thể đi bộ nhanh 30 phút mỗi ngày. Nếu có thể được, rủ nhiều người cùng tập hay gia nhập một nhóm nào đó thì sẽ dễ giúp mình tập hơn.
3. Ăn uống cẩn thận: Không nên ăn những thức ăn cay và nhiều gia vị hoặc thức uống nhiều chất cafeine hay rượu. Nên để ý xem thức ăn nào làm mình dễ bị nóng bừng và tránh thứ đó.
4. Thư giãn tâm thần: Ngồi thiền và những cử động làm thư giãn, giảm stress của môn yoga ... có thể làm giảm cơn nóng bừng. Nhiều nghiên cứu cho thấy thực tập phương pháp thở sâu và đều hòa 2 lần mỗi ngày cũng giúp giảm triệu chứng này. Nếu những phương pháp này không giúp bạn giảm cơn nóng bừng, chúng cũng sẽ giúp bạn ngủ dễ hơn.
5. Không hút thuốc: Nghiên cứu cho thấy hút thuốc làm tăng cơn nóng bừng. Ngưng hút thuốc còn làm giảm nguy cơ bị bệnh tim, stroke và ung thư.

Thuốc chữa cơn nóng bừng:
Nếu những cách trên không giúp bạn hết cơn nóng bừng, bác sĩ có thể cho bạn uống một vài thứ thuốc trị triệu chứng này.
1. Thuốc kích thích tố nữ: rất hiệu nghiệm nhưng có thể có nhiều phản ứng nguy hại
Thuốc Estrogen: là thuốc hiệu nghiệm nhất để chữa cơn nóng bừng. Tuy nhiên, như nhiều người đã biết, kết quả một cuộc nghiên cứu sâu rộng được công bố 2 năm trước đây cho thấy thuốc này có nhiều phản ứng phụ không tốt như làm tăng nguy cơ bệnh tim, ung thư, stroke...Nếu cơn nóng bừng của bạn quá nặng và bạn không có nguy cơ về bệnh tim mạch, ung thư..., bác sĩ có thể cho bạn uống estrogen. Bạn và bác sĩ của bạn cần bàn kỹ về lợi hại của quyết định này.
Thuốc Progesterone: Thay vì estrogen, nhiều bác sĩ có thể cho bệnh nhân uống progesterone, cũng là một thuốc kích thích tố nữ. Một trong những thuốc này là megestrol acetate dùng để chữa ung thư vú, cũng rất hiệu nghiệm để chữa cơn nóng bừng và có thể được dùng cho những người đã chữa hết bệnh ung thư vú.

2. Những thuốc khác:
Nhiều nghiên cứu cho thấy vài thứ thuốc khác, nguyên dùng để chữa bệnh trầm cảm, làm kinh hay cao máu, cũng có thể giúp giảm cơn nóng bừng.

Thuốc chữa trầm cảm: Venlafaxine (Effexor XR) dùng với liều thấp có thể làm giảm cơn nóng bừng. Vài thuốc trị trầm cảm khác như Paxil, Prozac, Celexa... có triển vọng hiệu nghiệm. Do đó, đa số các bác sĩ hiện nay dùng thuốc trị trầm cảm liều thấp để chữa cơn nóng bừng nếu bệnh nhân không thể hoặc không muốn uống estrogen. Tuy nhiên, các thuốc này không hiệu nghiệm bằng estrogen và cũng có những phản ứng phụ như làm buồn nôn, chóng mặt hay rối loạn tình dục...
Gabapentin: thường dùng chữa bệnh làm kinh và đau nhức kinh niên. Thuốc này khá hiệu nghiệm để chữa cơn nóng bừng. Phản ứng phụ gồm có buồn ngủ, chóng mặt, buồn nôn và sưng phù.
Clonidine: thường dùng chữa bệnh cao huyết áp, có thể làm giảm số lần bị cơn nóng bừng. Phản ứng phụ gồm có chóng mặt, buồn ngủ, khô miệng và bón.

Bs Nguyễn Thị Nhuận