Hiển thị các bài đăng có nhãn Táo bón. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Táo bón. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2008

Từ táo bón đến bệnh trĩ


Nên ăn nhiều rau để giảm thiểu nguy cơ bị bệnh trĩ

Trong cuộc đời ai cũng có ít nhất vài ba lần bị táo bón. Đây chỉ là triệu chứng chứ không phải một bệnh. Táo bón nhẹ và ít thường không nguy hiểm, nhưng nếu kéo dài, nó có thể dẫn đến bệnh trĩ.

Táo bón khiến người bệnh phải rặn mạnh khi đại tiện, làm tăng áp lực trong bụng, cản trở sự lưu thông máu trong các tĩnh mạch ở vùng hậu môn. Nguyên nhân gây táo bón thường là ăn không đủ chất xơ, lười vận động, có thói quen nhịn đại tiện... Sự kiêng khem quá mức hoặc việc uống viên sắt khi mang thai cũng có thể gây táo bón. Nếu không được khắc phục, lâu ngày, các tĩnh mạch bị tổn thương nặng nề, gây nên trĩ.

Khi mắc bệnh trĩ, người bệnh thường có cảm giác ngứa ngáy, đau hậu môn, chảy máu tươi khi đại tiện. Bệnh trĩ được chia làm hai loại: trĩ nội (búi tĩnh mạch nằm trên cơ thắt hậu môn) và trĩ ngoại (búi trĩ tĩnh mạch ở dưới cơ thắt hậu môn và tụt ra ngoài, có thể nhìn thấy bằng mắt thường). Nếu để lâu ngày không điều trị, trĩ nội sẽ tụt xuống và sa ra ngoài, trở thành trĩ ngoại. Bệnh nhân sẽ rất khó chịu do búi trĩ sưng đau, rỉ máu và hay nhiễm trùng khi đi đại tiện.

Chính vì những đặc điểm này, người bị bệnh trĩ cần phải khám ngay từ đầu để có hướng điều trị sớm bằng nội khoa, giúp bảo vệ thành mạch, tăng sức bền của thành mạch, giảm phù nề, xung huyết ở các tĩnh mạch vùng hậu môn; giảm đau đớn cho người bệnh. Không nên để lâu dẫn đến nhiễm trùng, việc điều trị trở nên phức tạp.

Để phòng ngừa bệnh trĩ:, cần có chế độ ăn uống hợp lý, tránh táo bón lâu ngày. Nên ăn nhiều rau, hoa quả tươi, uống nhiều nước, vận động cơ thể thường xuyên để tăng ngu động ruột. Những người phải làm việc ở tư thế bất lợi (ngồi lâu, đứng nhiều) cần kết hợp nghỉ ngơi, giải lao và vận động hợp lý để ngăn chặn bệnh trĩ. Tập thói quen đi đại tiện ngày 1 lần vào giờ cố định.

Khi thấy hiện tượng táo bón kèm đại tiện ra máu, cần đi khám thầythuốc nội tiêu hóa để được hướng dẫn chữa trị sớm.

Những người đã bị trĩ cần chú ý vệ sinh để phòng viêm nhiễm, hằng ngày và sau mỗi lần đi đại tiện, phải rửa vùng hậu môn bằng nước muối ấm. Những người bị táo dễ bị nứt hậu môn gây nhiễm trùng nên cũng cần vệ sinh như trên.

BS Nguyễn Văn Thịnh, Sức Khoẻ & Đời Sống

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2008

Thuốc nam chữa bệnh táo bón


Táo bón là một chứng bệnh thường gặp. Y học cổ truyền cho rằng táo bón phần nhiều do nhiệt chứng, tà nhiệt xâm nhập vào kinh dương minh phủ thực hoặc do khí hư, huyết hư, tân dịch suy kém gây ra. Táo bón làm trở ngại việc tống các chất cặn bã gây ra bí trướng, đau đớn làm người bệnh khó chịu. Chữa trị táo bón ngoài việc điều chỉnh một chế độ ăn uống hợp lý, tăng khẩu phần rau xanh và các chất xơ để tăng nhu nhuận, có thể dùng thuốc hoạt tràng, thông tiện. Có rất nhiều vị thuốc chữa táo bón. Xin giới thiệu một số vị thuốc nam thông dụng mà hiệu quả.

Vừng đen: Tên thuốc gọi là hắc chi ma, là một thực phẩm khá quen thuộc, chứa nhiều chất dầu, protein, các chất cholin, phytin, methionin... Hạt vừng vị ngọt, tính bình vào 4 kinh phế, vị, can, thận. Dùng chữa các chứng can thận suy yếu, ù tai, váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, đại tiện bí táo, râu tóc bạc sớm. Trường hợp táo bón, dùng vừng đen 40-50g sao qua trộn với 30g mật ong ăn vài lần trong ngày. Có thể dùng vài ngày.

Thầu dầu: Dùng dầu của hạt cây thầu dầu, tên thuốc là tỳ ma du. Thuốc có vị ngọt cay, tính bình, quy vào hai kinh vị và đại tràng. Tác dụng nhuận hạ, tích trệ, tiêu sưng. Dùng dầu thầu dầu làm trơn nhuận, phù hợp với người già bị bệnh táo bón. Dùng ngày 2 lần, mỗi lần 5ml.

Quả mướp: Quả tươi chứa các chất cholin, phytin, các acid amin tự do. Tác dụng làm lưu thông máu, thông sữa, làm dịu, chữa táo bón, đau nhức gân xương. Dùng mướp nấu ăn hoặc sắc cô đặc lấy nước uống có tác dụng làm hoạt tràng, thông tiện.

Bồ kết: Dùng quả già, chín đem phơi hoặc sấy khô. Thuốc có vị cay, mặn, tính ấm hơi độc, quy vào hai kinh phế, đại trường. Bồ kết chứa chất saponin, một số flavonoid và hợp chất triterpen. Có tác dụng trừ đờm, khai khiếu, chữa táo bón, làm thông sữa. Dùng bồ kết quả to, sao tồn tính, tán thành bột mịn, uống ngày 1 lần 2g với nước cơm để chữa táo bón.

Đào nhân: Vị thuốc là nhân của hạt đào trong có chứa phần lớn các chất dầu, ngoài ra có amygdalin, men elmusin, một ít tinh dầu. Đào nhân vị đắng, ngọt, tính bình, quy vào hai kinh tâm, can. Có tác dụng hoạt huyết, trừ ứ, nhuận tràng. Liều dùng 4-8g sắc uống. Có thể dùng hoa đào 5-8g có cùng tác dụng.

Lô hội: là nhựa đã chế biến khô của cây lô hội còn gọi là cây lưỡi hổ. Thuốc có vị đắng, tính hàn, quy vào hai kinh tâm, can. Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, thanh can, hoạt tràng, thông tiện. Dùng chữa các chứng táo bón, ruột dạ dày, can đởm thực nhiệt. Có thể dùng 6g lô hội nghiền nát, trộn với đường rồi ngậm và nuốt dần hoặc dùng lô hội 20g, chu sa 15g, tán nhỏ hòa với rượu làm viên, uống mỗi lần 4g với rượu hoặc nước cơm, ngày 2 lần.

Đại hoàng: Dùng rễ cây đại hoàng. Đại hoàng vị đắng, tính lạnh quy vào 5 kinh: tỳ, vị, can, tâm bào, đại trường. Có tác dụng thông rửa tràng vị, phá tích, hành ứ. Dùng chữa táo bón do nhiệt kết. Liều thường dùng 6-12g. Có thể dùng đại hoàng 9g, đào nhân 9g, hạt bí đao 9g, mang tiêu 9g, đan bì 12g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần chữa bệnh viêm ruột, đau bụng, táo bón.

Thảo quyết minh: Là hạt của cây muồng. Dùng hạt già đã chế biến khô, chứa chất antraglucosid, ngoài ra có protid, chất nhớt, chất béo và sắc tố. Quyết minh tử vị mặn, tính bình, vào hai kinh can, thận, có tác dụng thanh can, ích thận, thanh can hỏa, trừ phong nhiệt, làm sáng mắt, hoạt tràng, thông tiện. Liều dùng 6-10g, dùng sống hay sao, có thể tán bột hay sắc uống để trị táo bón.

Mạch môn: Vị thuốc là rễ (củ) cây mạch môn đông, thành phần chứa chất nhày, saponin, chất đắng. Vị ngọt hơi đắng, tính hơi lạnh, vào 3 kinh tâm, phế, vị. Tác dụng nhuận mát phổi, thanh tâm, tả nhiệt, sinh tân dịch, lợi sữa, nhuận tràng, tiêu đàm, chữa ho. Để chữa táo bón dùng mạch môn 15g, sinh địa 15g, huyền sâm 9g, sắc uống.

Mật ong: Vị ngọt, tính bình, quy vào 5 kinh: tâm, phế, tỳ, vị, đại trường. Tác dụng nhuận, trơn, hoạt tràng, bổ trung, giảm đau, giải độc. Dùng chữa đại tràng táo kết, chỉ thống, thích hợp với người bị chứng tân dịch ở vị tràng thiếu, hư nhược, không phải chứng thực, phù hợp với người già, trẻ em, phụ nữ sau đẻ bị táo bón. Liều dùng 20-40g mỗi ngày.

Phan tả diệp: Dùng dưới dạng lá, vị cay, đắng, tính rất lạnh, quy kinh đại tràng. Thường được dùng phối hợp phan tả diệp 8g, hậu phác 12g, sắc uống chữa chứng đại tràng bí kết gây táo bón. Tuy nhiên không nên dùng cho những người thể hư nhược, phụ nữ mang thai.

DSCKI. Phạm Hinh