Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2008

Cười chút xíu : Tạ ơn chúa!


Một cha xứ định bán con ngựa của mình . Một người đến hỏi mua

Tôi cần lưu ý ông - cha xứ nói - nó chỉ nghe theo những tiếng nhà đạo mà thôi. Muốn thúc nó chạy thì nói "tạ ơn chúa" , muốn nó dừng lại thì nó "alleluya"

- lần đầu tiên tôi nghe thế đấy - vị khách hàng đáp - chứ tôi quen với ngựa cả đời rồi
Leo lên yên ngựa xong ông khách hô:

- Tạ ơn chúa!

Con ngựa bắt đầu chạy đi chầm chậm . Đến tiếng "tạ ơn chúa" thứ hai thì nó phi nước đại rất nhanh . Nhưng bất ngờ vị khách thấy bờ vực thẳm ngay trước mặt mình, hoảng hốt ông ta thét lên :

- Alleluya!!!

Con ngựa kịp dừng lại xát bên bờ vực chừng 1m . Lau mồ hôi chảy lòng ròng trên trán, ông khách thở phào:

- TẠ ƠN CHÚA !!!

Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2008

Nghe nhạc tốt cho sức khõe và giúp bệnh nhân sớm hồi phục


Một cuộc nghiên cứu ở Phần Lan được phổ biến hôm 20 Tháng Hai cho thấy rằng âm nhạc giúp các bệnh nhân đột quị sớm bình phục, vì khi nghe những nhạc khúc mà họ ưa thích mỗi ngày bộ óc của họ được bồi dưỡng.

Ngoài ra, những bệnh nhân nghe nhạc vài giờ mỗi ngày sau khi trải qua một cơn đột quị thì cũng cải thiện trí nhớ của họ về ngôn ngữ và có trạng thái tâm thần thư giãn hơn, so với những bệnh nhân không nghe nhạc hoặc chỉ nghe đọc sách thu thanh (audio book) thay vì nghe nhạc, theo lời các nhà nghiên cứu.

Phương pháp trị liệu bằng âm nhạc từ lâu đã được dùng trong một số cách chữa bệnh, nhưng cuộc nghiên cứu được đăng trong đặc san BRAIN (Óc), do Đại Học Oxford ở Anh Quốc xuất bản, là lần đầu tiên cho thấy rõ hiệu ứng của âm nhạc đối với người nghe, toán nghiên cứu nói thêm.

“Những kết quả tìm thấy này chứng tỏ lần đầu tiên rằng nghe nhạc trong thời gian sớm sau khi bị đột quị có thể giúp tăng cường sự hồi phục khả năng nhận thức và tránh rơi vào tâm trạng buồn bã,” các nhà nghiên cứu viết trong phúc trình.

Những cơn đột quị - xẩy ra khi máu chẩy lên bộ óc bị bế tắc - có thể làm liệt bại những mô trong óc và là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên thế giới, hoặc khiến cho các bệnh nhân trở thành tàn phế vĩnh viễn. Những phương pháp ngăn ngừa và điều trị gồm có sự sử dụng những dược chất làm loãng máu và tìm cách làm giảm chất cholesterol trong máu.

Cuộc nghiên cứu trên đây gồm có 60 người mới trải qua một cơn đột quị tại động mạch não ở phía bên trái hoặc bên phải của bộ óc. Đây là loại đột quị thông thường nhất và có thể ảnh hưởng tới khả năng vận động thể chất, khả năng nói, và một loạt những chức năng nhận thức khác.

Những người tham gia được chia thành ba nhóm:

* nhóm thứ 1 hàng ngày được nghe những bản nhạc mà họ ưa thích ít nhất hai tiếng đồng hồ,

* nhóm thứ 2 được nghe những sách thu thanh;

* nhóm thứ ba không nghe nhạc hoạc sách thu thanh. Đồng thời, tất cả những người này cũng nhận được sự điều trị phục hồi hậu đột quị theo tiêu chuẩn.

Ba tháng sau khi xẩy ra đột quị, những người được nghe nhạc cho thấy họ cải thiện được 60% trí nhớ thuộc về lời nói, so với 18% cải thiện nơi những người được nghe sách thu thanh, và 29% nơi những người không được nghe cả hai thứ đó.

Khả năng tập trung chú ý cũng cải thiện 17% nơi những người nghe nhạc, theo lời ông Teppo Sarkamo, một nhà tâm lý học thuộc Ngành Nghiên Cứu Óc Nhận Thức tại Đại Học Helsinki, người cầm đầu toán nghiên cứu.

Ông nói trong một cuộc phỏng vấn: “Chúng tôi không thể giải thích điều gì xẩy ra trong óc, nhưng căn cứ vào những cuộc nghiên cứu trước đây và vào lý thuyết, sự nghe nhạc có thể kích động những vùng trong óc trong khi chúng đang hồi phục.”

Âm nhạc cũng có thể kích động một số cơ năng khác giúp sửa chữa và làm hồi sinh những mạng lưới thần kinh của bộ óc sau cơn đột quị, theo lời ông Sarkano.

Ông nói rằng cần thi hành thêm những cuộc nghiên cứu qui mô để tìm hiểu những gì thực sự diễn biến; nhưng những điều tìm thấy này chứng tỏ rằng âm nhạc có thể ban cho chúng ta một phương pháp trị liệu dễ dàng, và không tốn tiền, dành cho những bệnh nhân đột quị.

“Đây là một cuộc nghiên cứu sơ khởi, và là một bước khởi đầu đầy hứa hẹn,” ông Sarkamo nói.

Theo Reuters Health

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2008

Yoga lành mạnh và khi nào không nên tập


Yoga không chỉ giảm căng thẳng, phòng và chữa một số bệnh mà còn tạo vóc dáng đẹp.

Sau một thời gian tập luyện và ngồi thiền, người tập sẽ thấy bớt và biến mất sự căng thẳng, đầu óc trở nên minh mẫn. Tùy mỗi người sẽ sử dụng được cái tôi của mình (tư duy tích cực). Các bệnh tật của cơ thể đều liên hệ chặt chẽ với tinh thần. Sự trầm trọng về mặt tinh thần ảnh hưởng rõ nét lên hệ thống miễn dịch của cơ thể khiến chúng không làm tròn chức năng là tấn công những vật thể lạ. Sự căng thẳng về tình cảm, lo âu, sợ sệt, thất vọng, bất an... tạo nên sự mất thăng bằng về nội tiết tố, vốn ảnh hưởng sâu đậm lên tính tình của con người, mà gây nên bệnh.

Vì vậy, các động tác yoga giúp sửa chữa và điều khiển các tuyến nội tiết khiến chúng làm việc bình thường và kiểm soát tốt. Quân bình tâm trí thể xác, giảm stress, giúp cho tinh thần mạnh mẽ, có thể đối phó với các thách thức của cuộc sống. Nó giúp cho trí não không có các ý nghĩ thô thiển, mà tập trung tư tưởng, kiểm soát được phương hướng...

Nhưng một hệ quả rõ nét nhất là sự lạc quan trong cuộc sống, sự tự tin, làm chủ được tư tưởng và hành động của mình. Yoga nhấn mạnh đến việc thở đúng phương pháp để có được tối đa lượng sinh lực hấp thụ vào trong mỗi hơi thở. Người đã có gia đình sẽ thấy công hiệu của nó khi sinh hoạt vợ chồng. Khi đã tập đến các bài cuối cùng trong động tác của yoga, người tập sẽ thấy có nhiều cái tốt đến với mình, họ sẽ có giấc ngủ sâu, tiết kiệm được thời gian ngủ. Quan trọng là luôn an lạc trong cuộc sống.

Dù có tác dụng chậm hơn so với trí não nhưng yoga vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và cải tạo vóc dáng. Khi tập các động tác yoga, nguồn năng lượng thừa tiêu hao dần nhưng lại không thấy đói, không thèm ăn, trái lại với người gầy, khi đã đạt đến mức cân bằng thì sẽ nảy sinh nhu cầu cần cung cấp năng lượng nhiều. Yoga có sự điều chỉnh tùy theo thể trạng từng người, điều phối được cả lượng mỡ trong cơ thể, nơi nào cần thì đắp vào, sẽ lấy đi nơi nào thừa. Đây là lợi ích mà không phải môn thể dục nào cũng làm được.

Một ngày tập bao nhiêu là đủ?

Để đạt kết quả như mong muốn, nên tập mỗi ngày một tiếng đồng hồ, chia ra vào buổi sáng và buổi tối, trước các bữa ăn. Cơ thể chúng ta thường cứng vào buổi sáng và mềm vào buổi chiều, nên sự phân nhỏ này không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc tập.

Các tư thế của yoga ảnh hưởng đến sự phân phối sinh lực toàn cơ thể, nên nếu luyện tập các tư thế thường xuyên sẽ cải thiện và duy trì được sức khỏe toàn diện. Sau một thời gian tập luyện, dáng người sẽ trở nên thon thả, cử động nhanh nhẹn.

Có một nguyên tắc là các thiếu nữ phải có kinh nguyệt rồi mới được tập yoga. Trước khi tập, nên làm sạch cơ thể. Nếu ở nhà thì nên tắm sơ, súc miệng sạch sẽ.

Khi đã chọn môn yoga nên duy trì thường xuyên, luyện tập cả đời. Kinh nghiệm cho thấy, ai đã hiểu và nhận biết được tác dụng của yoga thì rất đam mê, ngày nào không tập là cảm thấy bứt rứt khó chịu.

Những người tập yoga cũng nên tập ngồi thiền, ngồi bất động, im lặng, tay và chân khoanh lại, mắt nhắm lại. Lúc ấy là đầu óc ta hoàn toàn không nghĩ ngợi gì, tất cả các cơ quan trong cơ thể đều được nghỉ...

Những điều chú ý

Nhiều người cho rằng yoga chỉ dành cho giới nữ. Sự thật không phải vậy, yoga có bài dành cho nam giới. Những bài tập này tăng cường nam tính. Nhưng không được tập sai phái của mình. Điều này vô cùng nguy hiểm.

Tác dụng của yoga không chỉ tốt cho vóc dáng mà còn tốt cho tinh thần và thể chất. Và thời gian tập khoảng 5-6 tháng mới cho kết quả mỹ mãn. Nếu là nữ học thể thao thì không được tập trong những ngày có kinh. Những tổn thương do ma sát ở tử cung không chỉ có khả năng gây bệnh mà còn khiến cho bụng to mãi dù tập cỡ nào bụng cũng không nhỏ lại được

(Theo PN&TT)

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2008

Yoga giúp giảm cân ở lứa tuổi trung niên


Tuổi trung niên, cái lứa tuổi thường "kêu trời" vì thân hình và vòng eo của mình cứ càng ngày càng tăng lên đáng sợ. Nhưng nghiên cứu mới chỉ ra, Yoga không những ngăn ngừa tăng cân mà còn giúp người tập giảm một trọng lượng đáng kể.

Đàn ông và phụ nữ ở lứa tuổi 45 và 55 thường là lứa tuổi điển hình trọng lượng cơ thể tăng nhanh dần theo mỗi năm, khi sinh lực cơ thể dần suy giảm mà lại không giảm được lượng calo mà họ tiêu thụ. Nghiên cứu đầu tiên đã cho thấy hiệu quả của yoga trong việc giảm cân và cũng có thể tăng cân nếu muốn.

Trong nghiên cứu, các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm tác động của yoga trong việc thay đổi trọng lượng cơ thể với 15,550 người ở lứa tuổi 53 - 57. Còn lại những thành viên từ 45 - 55 sẽ là những người cung cấp thông tin về những họat động cơ thể (bao gồm cả yoga) và sự thay đổi trọng lượng cho các nhà nghiên cứu.

Kết quả đã được công bố như sau: Những người nam giới và phụ nữ có trọng lượng cân bình thường nếu luyện tập yoga thường xuyên (ít nhất 30 phút hoặc hơn mỗi tuần) trong vòng từ 4 đến 5 năm chỉ tăng có 1,5 kg ít hơn hẳn so với những người không tập yoga ( tăng 4,5 kg tới 6 kg).

Những người nam giới và phụ nữ đang có trọng cân ở tình trạng "báo động", nếu luyện tập yoga thường xuyên sẽ giảm được 2,5 kg, còn những người không luyện tập yoga sẽ tiếp tục tăng tới 6 kg.

Các nhà nghiên cứu cho biết hiệu quả của yoga với việc giảm cân và duy trì trọng lượng có thể nhiều hơn những gì mà con người biết."Trong quá trình luyện tập yoga, bạn có thể đốt cháy đủ lượng calo để giảm cân, nhưng hầu hết lại có rất ít người luyện tập bộ môn này", giáo sư Alan D.Kristal, ĐH Washington nói.

"Từ kinh nghiệm của tôi, tôi nghĩ yoga là cách tốt nhất giúp mọi người hiểu rõ về cơ thể của mình. Vì thế khi bạn ăn đủ lượng thức ăn, bạn có thể cảm nhận được lượng thức ăn tiêu thụ vào cơ thể đã quá đầy, điều đó có thể giúp bạn dễ dàng ngừng ăn trước khi ăn quá nhiều."

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2008

Mỹ vừa thử nghiệm trên người về khả năng chống ung thư của trà


Mỹ vừa tiến hành thử nghiệm trên người chất chiết xuất epigallocatechin gallate từ trà xanh. Kết quả thử nghiệm cho thấy, chất này có khả năng ngăn ngừa ung thư rất cao...

Mỹ vừa thử nghiệm lâm sàng (thử trên người) về khả năng chống ung thư của chất chiết xuất từ trà xanh: epigallocatechin gallate.

Thử nghiệm này do Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ tài trợ và do tiến sĩ H.-H. Sherry Chow, thuộc trường Đại học Arizona, Tucson (Mỹ) phụ trách nhóm nghiên cứu.

TS. Chow và các cộng sự đã thực hiện các thử nghiệm lâm sàng đối với 42 người lớn khỏe mạnh và không hút thuốc lá.

Trong 4 tuần trước khi thử nghiệm, những tình nguyện viên này không uống trà xanh và cũng không được uống thuốc hay ăn những thực phẩm có chứa epigallocatechin gallate, một chất chống oxy hóa có tác dụng chống ung thư.

Và trong 4 tuần tiếp theo, các tình nguyện viên mỗi ngày uống 4 viên epigallocatechin gallate 200mg vào buổi sáng trước khi ăn - tức đưa vào cơ thể một lượng epigallocatechin gallate có từ 8 -16 tách trà xanh.

Các chuyên gia nhận thấy nồng độ enzyme GST trong máu đã tăng 80% ở những người có mức GST thấp ở thời điểm cuộc nghiên cứu được bắt đầu. Trong khi đó, nồng độ này đã không tăng hoặc chỉ tăng rất ít ở những người đã có sẵn GST ở mức trung bình hoặc cao trong cơ thể.

Những viên nang chứa chất chiết xuất từ trà xanh trong nghiên cứu này đã được bào chế đặc biệt để dùng trong thử nghiệm lâm sàng.

Theo kết quả thử nghiệm, mỗi ngày uống 800mg epigallocatechin gallate được chiết xuất từ trà xanh giúp nồng độ enzyme GST trong máu tăng 80%. Đây là enzyme có khả năng ngăn ngừa ung thư.

Enzyme này có khả năng thúc đẩy cơ thể sản xuất enzyme GST có tác dụng giải độc và chống ung thư. enzyme GST có khả năng biến đổi những phân tử gây ung thư thành những phân tử trơ, không gây ảnh hưởng đến chất liệu cấu tạo di truyền Deoxyribonucleic Acid (DNA).

Tuy nhiên, ông Chow lưu ý rằng những sản phẩm chiết xuất từ trà xanh trên thị trường có thể
không đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm nhặt về độ tinh khiết và cô đặc như trong nghiên cứu này.

Theo VNN

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2008

Ăn trứng luộc là tốt nhất


Không nên ăn trứng còn sống vì có thể bị nhiễm khuẩn độc và giảm hấp thu biotin - một chất rất cần cho cơ thể. Trong các cách làm chín trứng, luộc là tốt nhất bởi giúp hấp thu tốt hơn.

Các bác sĩ khuyên không nên ăn trứng gà sống hay hòa tan trứng sống trong cháo nóng, canh nóng mà nên luộc hoặc nấu chín để phòng nhiễm khuẩn... Đường sinh dục của gà có rất nhiều vi khuẩn nên cả trong và ngoài trứng gà đều có thể nhiễm khuẩn, đặc biệt là Salmonella - một yếu tố gây ngộ độc thức ăn.

Ngoài ra, trong lòng trắng trứng sống còn có một chất chống lại biotin (vitamin H), cản trở hấp thu dưỡng chất này. Vitamin H là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sử dụng protein và đường - bột, cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể. Vì vậy, ăn trứng sống hoặc chín tái đều có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Trứng gà rán hoặc ốp mà dùng lửa to thì dễ khiến bên ngoài cháy mà bên trong chưa chín. Lúc đó, lòng trắng trứng bị cháy sẽ khó hấp thu, lại tiêu hủy các vitamin tan trong nước như vitamin B1, B2, còn lòng đỏ chưa được tiệt khuẩn nếu có. Vì vậy, khi rán hoặc ốp trứng, nên để lửa nhỏ, thời gian lâu một chút cho lòng đỏ vừa chín là tốt.

Theo các nhà dinh dưỡng học, nếu ăn trứng gà sống, tỷ lệ hấp thu và tiêu hóa chỉ chiếm 40%, ở trứng luộc là 100%, trứng rán chín tới 98,5%, trứng rán già 81%, trứng ốp 85%, trứng chưng 87,5%, trứng ốp 97%. Do đó các nhà dinh dưỡng học khuyên tốt nhất là nên ăn trứng luộc, không những bảo đảm được chất dinh dưỡng như protein, lipid, khoáng chất... mà các vitamin cũng bị mất đi ít.

Lưu ý khi luộc trứng gà

Không ít người khi luộc trứng thường cho rằng cho vào đun sôi chín là được, nên nhiều khi trứng bị nứt hoặc vỡ làm mất chất dinh dưỡng.

Cách luộc đúng là: Cho trứng cùng với nước lã vào nồi rồi đun sôi dần. Khi nước sôi, vặn nhỏ lửa đun khoảng 2 phút rồi tắt bếp ngâm trứng khoảng 5 phút. Như vậy, trứng vừa chín tới, lòng đỏ không bị chín kỹ quá, dễ hấp thu. Lúc luộc trứng, có thể cho thêm một ít muối để giữ cho trứng không bị vỡ.

Trứng vừa bỏ ở tủ lạnh ra không nên luộc ngay, cũng không nên ngâm trong nước nóng hay luộc bằng lửa quá to vì dễ gây vỡ trứng, hoặc không chín lòng đỏ.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2008

Tánh Nóng Hại Sức Khoẻ


Bên cạnh câu nói "Tiếng cười bằng mười thang thuốc bổ," người ta cũng tìm thấy những người thường xuyên nổi cáu sẽ mất nhiều thời gian hơn để hồi phục từ các chấn thương.

Các nghiên cứu trước đã tìm ra mối liên hệ giữa những người nóng nảy với sự gia tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, huyết áp cao và đột quỵ, đặc biệt ở đàn ông. Nhưng nghiên cứu mới lần đầu tiên khẳng định sự cáu giận còn tác động tới quá trình lành lặn vết thương.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Ohio, Mỹ, đã gây một vết bỏng nhẹ lên cánh tay của 98 tình nguyện viên. Những người này sẽ được theo dõi trong 8 ngày về quá trình hồi phục của da. Trước đó, các tình nguyện viên cũng được làm các bài kiểm tra tâm lý để đánh giá mức độ dễ nổi cáu của mỗi người.

Kết quả rất rõ ràng: những ai khó kiềm chế cơn giận sẽ tăng gấp 4 lần khả năng phải cần thêm 4 ngày để vết thương lành hẳn, so với những người kiểm soát tâm lý tốt hơn. Những người thất bại trong việc kiểm soát bản thân cũng có hàm lượng hoóc môn stress cao hơn, dẫn đến việc khỏi bệnh lâu hơn.

"Khả năng kiềm chế cơn giận có một tác động rõ rệt đối với việc lành lặn vết thương", tác giả nghiên cứu Jean Philippe Gouin kết luận. Theo ông, các liệu pháp tâm lý kiểm soát cơn giận có thể giúp bệnh nhân hồi phục từ các cuộc phẫu thuật nhanh chóng hơn.